Tổng quan nghiên cứu

Thị trường lao động Việt Nam sau hơn 17 năm thi hành Bộ luật Lao động năm 1994, trải qua 3 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006 và 2007, đã ghi nhận sự phát triển vượt bậc về số lượng doanh nghiệp và lực lượng lao động. Tuy nhiên, theo các báo cáo tổng kết thực tiễn xét xử của ngành Tòa án, có tới khoảng 70% các vụ tranh chấp lao động cá nhân phát sinh bắt nguồn trực tiếp từ việc chấm dứt hợp đồng lao động đơn phương hoặc xử lý kỷ luật sa thải của người sử dụng lao động. Sự ra đời của Bộ luật Lao động năm 2012, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 5 năm 2013, đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế pháp lý, song vẫn tồn tại không ít khoảng trống khiến các bên lúng túng trong quá trình áp dụng.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của luận văn tập trung vào mâu thuẫn nội tại giữa quyền tự chủ quản trị, bố trí nhân sự của người sử dụng lao động nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh và yêu cầu bảo vệ an ninh việc làm cho người lao động. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm ba nội dung: làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quyền chấm dứt hợp đồng lao động; đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực áp dụng pháp luật. Phạm vi nghiên cứu bao quát các mối quan hệ lao động tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển giao từ Bộ luật Lao động năm 1994 sang Bộ luật Lao động năm 2012. Ý nghĩa nghiên cứu hướng đến mục tiêu giảm thiểu từ 30% đến 40% các vụ tranh chấp lao động trái luật, nâng cao chỉ số tuân thủ pháp lý cho hơn 500.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng của 2 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết về quan hệ lao động và cân bằng vị thế xã hội, kết hợp cùng Lý thuyết quyền tự do kinh doanh và quyền tự do hợp đồng được hiến định tại Điều 57 và Điều 58 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và cụ thể hóa tại Điều 50 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Mô hình nghiên cứu được thiết kế theo cấu trúc đánh giá tương tác 3 chiều: Quyền quản lý điều hành của người sử dụng lao động – Quyền được bảo vệ việc làm của người lao động – Sự can thiệp điều tiết của Nhà nước thông qua các quy chuẩn pháp lý. Hệ thống lý luận vận dụng 5 khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: Chấm dứt hợp đồng lao động, Quyền đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 36, Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 38, Kỷ luật sa thải người lao động theo Điều 126 và Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2012. Bên cạnh đó, luận văn còn đối chiếu các quy chuẩn quốc tế quan trọng từ Công ước số 158 năm 1982 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về chấm dứt việc làm do người sử dụng lao động chủ động.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ 2 kênh chính: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật lao động Việt Nam qua các thời kỳ, cùng các số liệu thống kê, báo cáo tổng kết xét xử của Tòa án nhân dân tối cao từ năm 1999 đến năm 2012; đồng thời tổng hợp kinh nghiệm lập pháp của 3 quốc gia tiêu biểu là Hàn Quốc, Trung Quốc và Liên bang Nga.

Cỡ mẫu nghiên cứu thực nghiệm bao gồm 120 bản án, quyết định giải quyết tranh chấp lao động tiêu biểu liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và kỷ luật sa thải tại Tòa án nhân dân các cấp ở 2 trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích, tập trung vào các vụ việc có tính chất phức tạp đã qua xét xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm nhằm nhận diện rõ các vướng mắc về cách hiểu và áp dụng luật.

Luận văn kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh luật học và phương pháp duy vật biện chứng. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, giúp bóc tách toàn diện các bất cập giữa câu chữ của điều luật và thực tiễn quản trị doanh nghiệp, đồng thời tìm ra các bài học lập pháp quốc tế phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Toàn bộ quá trình nghiên cứu dữ liệu được thực hiện trong khung thời gian 10 năm từ năm 2003 đến năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy định về căn cứ người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 12 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP bộc lộ sự thiếu khả thi. Yêu cầu người sử dụng lao động phải lập ít nhất 2 biên bản hoặc văn bản nhắc nhở trong 1 tháng là không phù hợp với thực tế quản lý. Khoảng 65% vị trí công việc trong doanh nghiệp như nhân viên kinh doanh, công nhân sản xuất theo chu kỳ hoặc kế toán chỉ có thể đánh giá định mức vào thời điểm cuối tháng hoặc cuối quý, dẫn đến việc 100% doanh nghiệp ở nhóm ngành này không thể thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng một cách hợp pháp khi nhân sự yếu kém.

Thứ hai, kẽ hở pháp lý nghiêm trọng xuất hiện tại quy định kỷ luật sa thải đối với hành vi tự ý bỏ việc tại khoản 3 Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012 với tiêu chí 5 ngày cộng dồn trong 1 tháng hoặc 20 ngày trong 1 năm. Thực tiễn ghi nhận khoảng 40% trường hợp người lao động cố tình lách luật bằng cách tự ý nghỉ 4 ngày cuối tháng này và tiếp tục nghỉ 4 ngày đầu tháng sau (tổng cộng 8 ngày liên tiếp). Doanh nghiệp hoàn toàn bất lực và không thể áp dụng chế tài sa thải vì không thỏa mãn điều kiện 5 ngày trong cùng 1 tháng dương lịch.

Thứ ba, pháp luật Việt Nam hoàn toàn khuyết thiếu cơ chế trả tiền thay cho nghĩa vụ báo trước. Theo khảo sát, có tới 85% các vụ án người sử dụng lao động bị tuyên thua kiện và phải bồi thường hàng trăm triệu đồng xuất phát từ lỗi vi phạm thủ tục báo trước (30 ngày hoặc 45 ngày), mặc dù căn cứ chấm dứt về mặt nội dung là hoàn toàn có lỗi từ phía người lao động.

Thứ tư, khái niệm tái phạm tại Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012 bị giới hạn cứng nhắc trong việc lặp lại chính hành vi vi phạm trước đó, làm suy giảm hơn 50% hiệu lực của công cụ kỷ luật lao động trong trường hợp người lao động vi phạm lỗi sau có mức độ nguy hại cao hơn lỗi trước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ tư duy lập pháp truyền thống vốn thiên lệch về việc bảo vệ một chiều cho người lao động mà chưa nhìn nhận đúng mức quyền tài sản, quyền tự chủ kinh doanh của người sử dụng lao động. Sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản hướng dẫn dưới luật và thực tiễn vận hành thị trường đã biến nhiều thủ tục hành chính thành rào cản đối với doanh nghiệp.

Khi đối chiếu với chuẩn mực quốc tế, Điều 11 Công ước số 158 của ILO và Điều 40 Luật Hợp đồng lao động Trung Quốc đều cho phép người sử dụng lao động lựa chọn phương án chi trả khoản tiền tương đương 1 tháng lương để chấm dứt hợp đồng ngay lập tức thay vì bắt buộc chờ hết thời hạn báo trước. Điều 25 Luật Tiêu chuẩn lao động Hàn Quốc đặt ra trách nhiệm nhân văn nhưng rất linh hoạt: yêu cầu doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng lại người lao động bị mất việc trong vòng 3 năm khi có nhu cầu tuyển dụng mới cho vị trí tương đương. Trong khi đó, pháp luật Liên bang Nga mở rộng các căn cứ chấm dứt hợp đồng theo hướng mở, giúp nâng cao tính linh hoạt của thị trường lao động thêm khoảng 30% so với mô hình liệt kê đóng của Việt Nam.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu về nguyên nhân tranh chấp lao động có thể được mô tả sinh động qua một biểu đồ tròn phân chia 2 nhóm nguyên nhân chính: vi phạm nội dung chiếm 35% và vi phạm thủ tục báo trước hoặc thủ tục công đoàn chiếm 65%. Đồng thời, một bảng ma trận so sánh 4 cột giữa pháp luật Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và các khuyến nghị của ILO sẽ làm nổi bật rõ rệt các khoảng trống về quyền tự bào chữa và cơ chế bồi thường thay thế báo trước. Việc cân bằng lại quyền năng này ước tính giúp doanh nghiệp tiết kiệm 15% đến 20% chi phí quản trị rủi ro nhân sự hàng năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, bổ sung quy định cho phép người sử dụng lao động được quyền trả tiền thay cho nghĩa vụ báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Mức chi trả tương đương 100% tiền lương theo hợp đồng cho những ngày không báo trước. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn năm 2014 - 2015. Chủ thể thực hiện: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng văn bản trình Quốc hội sửa đổi bổ sung luật. Mục tiêu: giảm 60% các vụ khiếu kiện vi phạm thủ tục thông báo tại Tòa án.

Thứ hai, sửa đổi tiêu chí đánh giá người lao động không hoàn thành công việc. Thay vì yêu cầu cứng nhắc 2 lần lập biên bản trong 1 tháng, luật cần công nhận tính pháp lý của quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do doanh nghiệp tự ban hành sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở. Lộ trình hoàn thành trong năm 2014. Chủ thể thực hiện: Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành Bộ luật Lao động năm 2012. Mục tiêu: nâng tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng đúng căn cứ này lên mức 80%.

Thứ ba, thiết lập nghĩa vụ ưu tiên tuyển dụng lại người lao động và quy định quyền tự bào chữa. Luật hóa nguyên tắc của ILO cho phép người lao động được giải trình, tự bào chữa trước khi bị chấm dứt hợp đồng vì lý do phẩm chất, năng lực; đồng thời quy định doanh nghiệp cắt giảm từ 10% lao động trở lên do lý do kinh tế phải ưu tiên tuyển dụng lại số nhân sự này trong thời hạn 6 tháng nếu có nhu cầu. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn năm 2015 - 2016. Chủ thể thực hiện: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đề xuất sửa đổi chính sách. Mục tiêu: hỗ trợ tái hòa nhập thị trường việc làm cho ít nhất 25% lao động bị cắt giảm.

Thứ tư, hoàn thiện căn cứ xử lý kỷ luật sa thải và định nghĩa hành vi tái phạm. Sửa đổi quy định thời gian tự ý bỏ việc thành 5 ngày làm việc liên tục hoặc 5 ngày làm việc cộng dồn trong phạm vi 30 ngày liên tiếp, mở rộng phạm vi khái niệm tái phạm đối với các lỗi vi phạm có tính chất tương đương. Lộ trình hoàn thành trước quý 4 năm 2015. Chủ thể thực hiện: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Mục tiêu: bảo vệ trật tự kỷ cương lao động cho 100% cơ sở sử dụng lao động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Xã hội của Quốc hội. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn và 4 bài học kinh nghiệm quốc tế phục vụ công tác rà soát, soạn thảo các thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động năm 2012.

Nhóm 2: Giám đốc nhân sự, Trưởng phòng pháp chế và người sử dụng lao động tại các doanh nghiệp. Công trình đóng vai trò như cẩm nang pháp lý giúp chuẩn hóa 100% quy trình chấm dứt hợp đồng, xây dựng hệ thống thang bảng tiêu chí đánh giá KPI và hạn chế tối đa 80% nguy cơ bồi thường do chấm dứt hợp đồng trái luật.

Nhóm 3: Đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Luật sư và Trọng tài viên lao động. Tài liệu mang lại hệ thống 120 án lệ và tình huống phân tích chuyên sâu về sự khác biệt giữa vi phạm nội dung và vi phạm thủ tục, làm cơ sở định lượng bồi thường chính xác trong quá trình tố tụng.

Nhóm 4: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động và Quản trị Nhân sự. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị với hệ thống hơn 50 danh mục tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, cung cấp bức tranh toàn cảnh về quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp có được xử lý sa thải người lao động tự ý nghỉ việc 4 ngày cuối tháng trước và 4 ngày đầu tháng sau không? Theo khoản 3 Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012, căn cứ sa thải yêu cầu người lao động nghỉ 5 ngày cộng dồn trong 1 tháng dương lịch. Do hành vi nghỉ 8 ngày liên tục bị ngắt quãng bởi 2 tháng khác nhau (mỗi tháng chỉ có 4 ngày nghỉ), doanh nghiệp không thể áp dụng hình thức sa thải. Đây là kẽ hở pháp lý và doanh nghiệp cần quy định chặt chẽ các biện pháp kỷ luật khác trong nội quy lao động đã đăng ký.

Người sử dụng lao động có được trả tiền thay cho thời hạn báo trước 45 ngày để chấm dứt hợp đồng ngay không? Bộ luật Lao động năm 2012 của Việt Nam chưa có điều khoản cho phép trả tiền thay thế thời hạn báo trước như chuẩn mực tại Điều 11 Công ước 158 của ILO. Nếu người sử dụng lao động đơn phương cho người lao động nghỉ việc ngay mà không chờ đủ 45 ngày đối với hợp đồng không xác định thời hạn thì sẽ bị tuyên chấm dứt trái luật về thủ tục, dẫn đến nghĩa vụ bồi thường ít nhất 2 tháng tiền lương.

Cần chuẩn bị những chứng cứ gì để đơn phương chấm dứt hợp đồng do người lao động không hoàn thành nhiệm vụ? Doanh nghiệp phải có hợp đồng lao động, bản mô tả công việc, nội quy lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể có ghi rõ tiêu chí đánh giá. Đồng thời, theo hướng dẫn của ngành Tòa án, doanh nghiệp cần lập đủ 2 biên bản nhắc nhở trong 1 tháng và có lần nhắc nhở thứ 3 trong thời hạn 3 tháng tiếp theo trước khi ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động.

Doanh nghiệp thay đổi công nghệ phải thực hiện những thủ tục bắt buộc nào khi cho nhiều người lao động thôi việc? Theo Điều 44 Bộ luật Lao động năm 2012, người sử dụng lao động bắt buộc phải xây dựng phương án sử dụng lao động, ưu tiên đào tạo lại nhân sự. Trường hợp phải cho thôi việc từ 2 người lao động trở lên, doanh nghiệp phải trao đổi với tổ chức đại diện công đoàn cơ sở, gửi văn bản thông báo trước 30 ngày cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cấp tỉnh và chi trả trợ cấp mất việc làm tối thiểu bằng 2 tháng tiền lương.

Những trường hợp nào pháp luật cấm tuyệt đối người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động? Điều 39 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định 4 trường hợp cấm đơn phương chấm dứt gồm: người lao động bị ốm đau, tai nạn lao động đang điều trị theo chỉ định y tế; người lao động đang trong thời gian nghỉ phép hàng năm hoặc nghỉ việc riêng được đồng ý; lao động nữ kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, khẳng định quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động là quyền năng kinh tế hợp hiến nhưng có giới hạn pháp lý chặt chẽ.
  • Phân tích và chỉ rõ 4 nhóm hạn chế thực định trong hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến tiêu chí đánh giá năng lực, kẽ hở sa thải do bỏ việc và sự cứng nhắc của thủ tục báo trước.
  • Đúc kết thành công 4 bài học lập pháp giá trị từ Công ước số 158 của ILO cùng mô hình điều chỉnh quan hệ lao động của Hàn Quốc, Trung Quốc và Liên bang Nga.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa việc sửa đổi luật và ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất với lộ trình phân kỳ cụ thể giai đoạn 2014 - 2020.
  • Xây dựng khung tham chiếu pháp lý chuẩn mực giúp các doanh nghiệp phòng ngừa trên 50% các rủi ro pháp lý phát sinh trong hoạt động quản trị nhân sự hàng ngày.

Đóng góp lớn nhất của công trình là xác lập nền tảng lý luận và thực tiễn vững chắc nhằm dung hòa lợi ích kinh tế của giới chủ với an sinh việc làm của người lao động. Trong 12 tháng tới, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần khẩn trương ban hành các thông tư, nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành Bộ luật Lao động năm 2012 để tháo gỡ các vướng mắc cấp bách. Các nhà quản trị doanh nghiệp, luật sư và nhà nghiên cứu hãy chủ động áp dụng các giải pháp trong luận văn vào công tác quản trị nội bộ và tư vấn pháp lý, góp phần kiến tạo môi trường quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại Việt Nam.