phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Khái quát về tỉnh Salavan và cộng đồng người Việt Nam ở tỉnh Salavan Chƣơng 2: Hoạt động kinh tế của người Việt Nam tại tỉnh Salavan (1986-2015) Chƣơng 3: Đời sống văn hóa của người Việt Nam ở tỉnh Salavan (1986-2015) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 8ĐHTN http://www.vn BẢN ĐỒ TỈNH SALAVAN (NƯỚC CỘNG HÕA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO) Nguồn:https://en.org/wiki/Salavan_Province#/media/ File:Map_of_Saravan_Province,_Laos.jpg Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 9ĐHTN http://www.vn Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH SALAVAN VÀ CỘNG ĐỒNG NGƢỜI VIỆT NAM Ở TỈNH SALAVAN 1. Khái quát về tỉnh Salavan 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân cư Salavan có diện tích 10.691 km2, là tỉnh nằm trên vùng bình nguyên của cao nguyên Tạôi và cao nguyên Bolaven ở Đông nam Lào và nằm ở phía bắc của 3 tỉnh: Champasak, Attapeu, Sekong. Phía bắc giáp tỉnh Savannakhet (275 km), phía nam giáp tỉnh Champasak (175 km), phía đông nam giáp tỉnh Xekong (200 km), phía tây giáp tỉnh Amnatchalern của Thái Lan, phía đông giáp các tỉnh Quảng trị, Huế của Việt Nam (80 km) [3].
Địa hình của Salavan chủ yếu là vùng bình nguyên trên cao nguyên Tạôi nối liền với cao nguyên Bolaven, phía tây có rừng quốc gia Sebangnoune, Phuxiengthong. Thời tiết của tỉnh Salavan chia thành 2 khu vực: vùng khí hậu lạnh ở huyện Tạôi, Samour, Laungam và vùng khí hậu nóng gồm có huyện Salavan, Khongsedone, Lakhonpheng,Toumlan và Vapi. Nhiệt độ trung bình trong năm là 260c, nhiệt độ cao nhất 410c, nhiệt độ thấp nhất 070c. Thời tiết nóng nhất vào tháng 3-5, thời tiết lạnh nhất tháng 12-1.
Lượng mưa trung bình 1. Sông Mê Công chạy qua tỉnh Salavan ở huyện Lakhonpheng và Khongsedone có chiều dài 95 km bao gồm nhiều đảo nhỏ lớn như: đảo Donkhut, Donphimai, Donkhiew, Donmakkeur đó là đường biên giới giữa Salavan và tỉnh Amnatchalern của Thái Lan. Các con sông chính của tỉnh Salavan bao gồm: Sedone, Sebangnoune, Sepone, Selanong, Sela mong, Sepakane, Selana, Sekathet. Trải qua nhiều biến động trong lịch sử, tỉnh Salavan cũng có sự phân chia các đơn vị hành chính ở các giai đoạn khác nhau.
Năm 1959-1963, tỉnh Salavan gồm 6 huyện: Salavan, Laungam, Pakxong, Paksenay, Paksenok (Pakxong, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –10 ĐHTN http://www.vn Paksenay, Paksenok thuộc tỉnh Champasak hiện nay) và Khongsedone. Năm 1976-1985 gồm 7 huyện: Salavan, Laungam, Khongsedone, Lakhonpheng, Vapi, Toumlan. Từ năm 1986 đến nay tỉnh gồm có 8 huyện: Salavan, Laungam, Khongsedone, Lakhonpheng, Vapi, Tạôi, Toumlan và Samuor. Về dân cư, theo tạp chí “25 năm con đường phát triển tỉnh Salavan” xuất bản năm 2000 đã thống kê: năm 2000 Salavan có 294.885 dân số, trong đó có 152.161 nữ, mật độ dân số 28 người/km2.700 nhân khẩu, 14 dân tộc gồm hai nhóm ngôn ngữ Lào - Tày và nhóm ngôn ngữ Môn- Khơme, mỗi dân tộc đều có tình đoàn kết truyền thống lâu Bảng 1.1: Thống kê dân số các dân tộc tại tỉnh Salavan năm 1995 STT Dân tộc Số lƣợng (ngƣời) Chiếm 100% 1 Lào 143 104 55,78 2 Katang 45 177 17,60 3 Suồi 19 297 7,52 4 Pako 11 512 4,48 5 Lavên 10,149 3,95 6 Tạôi 9 183 3,58 7 Phù Thai 3 934 1,53 8 In 4 104 1,59 9 Kađô 1 553 0,60 10 Nghẹ 3 381 1,31 11 Tộng 2 742 1,06 12 Ka Tu 1 296 0,50 13 Là nay 600 0,23 14 A Lăc 516 0,20 Nguồn: Theo sách “Lịch sử tỉnh Salavan” [tr.18-19] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –11 ĐHTN http://www.vn Tính đến năm 2015, Salavan có 393.000 hộ nhân khẩu.
Mật độ dân số 37 người/km2, với 10 dân tộc chủ yếu: Lào, Katang, Suồi, Lavên, Tạôi, Phù Thai, In, Nghẹ, A Lăc, Ka Tu. Trong đó, dân tộc chiếm tỷ lệ đông nhất là dân tộc Lào (chiếm 60% dân số toàn tỉnh), còn lại là các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me. Mỗi dân tộc đều có sắc thái văn hóa riêng của mình. Về văn hóa dân gian, phổ biến là khúc ca Lăm Salavan và điệu múa Lăm vông Salavan.
Ngoài cư dân bản địa, tỉnh Salavan còn có người nước ngoài đến định cư, sinh sống và làm việc như: người Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Việt Nam, người Thái Lan, người Öc. Đặc điểm kinh tế và xã hội của tỉnh Salavan. Sau khi giải phóng hoàn toàn đất nước (năm 1975), một trong những nhiệm vụ cốt yếu hàng đầu của nước Lào nói chung, của tỉnh Salavan nói riêng là tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, phát kinh tế - xã hội, đưa tỉnh Salavan sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân. Nhận thức vai trò của mình đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào sớm đề ra nhiều chủ trương, biện pháp để phát triển kinh tế - xã hội Lào.
Với chủ trương khôi phục và phát triển kinh tế, tổ chức lại sản xuất, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng; đồng thời tranh thủ viện trợ quốc tế, nhằm đáp ứng các yêu cầu cần thiết của nhà nước và của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đề ra, nhân dân các bộ tộc Lào đã phát huy hết tinh thần, trách nhiệm của mình, khai thác mọi thế mạnh, tiềm năng sẵn có vào phát triển sản xuất, từng bước đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khó khăn sau chiến tranh và làm cho kinh tế và đời sống nhân dân ổn định. Trước những yêu cầu mang tính sống còn của thời đại. Với quyết tâm đưa đất nước phát triển nhanh hơn nữa, dần hội nhập với dòng chảy chung của khu vực và thế giới, Đại hội IV (năm 1986) của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –12 ĐHTN http://www.vn đi đến một quyết định lịch sử là tiến hành đổi mới đất nước một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống, mà trước hết là điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “… Từng bước tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng thành công cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội…” [46, tr.
Trên cơ sở của đường lối đổi mới, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào từ một nước kém phát triển, đã từng bước xây dựng nền kinh tế ngày càng phát triển, cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Đại hội Đảng bộ tỉnh Salavan lần thứ III đã diễn ra ngày 17 tháng 10 năm 1986 tại hội trường Ông Kẹo, trung tâm tỉnh Salavan, Trong Đại hội này có Tổng bí thư Kaysone Phomvihane tham dự. Đại hội đã đề ra các định hướng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Salavan từ năm 1986-1990 đồng thời đề ra Nghị quyết: 1. Đảm bảo vấn đề lương thực và thức ăn.
Ngăn chặn nạn phá rừng làm vườn. Hoạt động phân chia khu kinh tế, có kế hoạch phát triển nông thôn toàn diện và sử dụng tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả. Xây dựng cơ sở hạ tầng; mở rộng tuyền thông, giao thông vận tải. Mở rộng thương mại và việc trao đổi hàng hóa.
Tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao trình độ cán bộ cho các lĩnh vực. Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Salavan lần III, Salavan đã xây dựng cơ sở hạ tầng: giao thông vận tải, thủy lợi, bệnh viện, các trường học…, tiêu biểu đó là việc hoàn thành xây dựng thủy điện Seset, xây dựng đường số 20 và hoàn thành còn đường từ trung tâm tỉnh Salavan - Tạôii- Samuor có chiều dài 160 Km, nhiều trường học được thành lập ở khắp nơi. Xác định phát triển kinh tế là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, tỉnh Salavan đã có những chính sách cải thiện việc buôn bán, mở rộng sản xuất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –13 ĐHTN http://www.vn hàng hóa nhằm mục tiêu tăng cường hàng hóa xuất khẩu, khuyến khích nhân dân làm ruộng thay thế việc phá rừng làm nương ở miền núi, mở rộng diện tích trồng lúa nước có năng xuất cao hơn trồng lúa nương nhằm giải quyết vấn đề lương thực ở các huyện vùng núi như Tạôii, Samuor [46, tr. Kể từ năm 1986 đến nay, nước Lào nói chung, tỉnh Salavan nói riêng ngày càng ổn định, quốc phòng - an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, nhân dân có tinh thần đoàn kết, kinh tế tăng trưởng liên tục, đời sống vật chất và tinh thần, văn hóa của nhân dân không ngừng được cải thiện.
Có kết quả đó là do kiên trì thực hiện đường lối đổi mới toàn diện với nguyên tắc vừa mạnh dạn, vừa sáng tạo trong việc khai thác tiềm năng, sức mạnh của dân tộc và tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế [50, tr. Từ năm 2011 đến năm 2015, Đảng NDCM Lào đang tập trung tổ chức triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm lần thứ 7 (2011-2015) trên tinh thần bốn “đột phá”: Đột phá về mặt tư duy; đột phá mạnh mẽ về phát triển nguồn nhân lực; đột phá về việc giải quyết hệ thống cơ chế, chế độ, cải cách thủ tục hành chính Nhà nước; và đột phá trong việc giải quyết xóa nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để làm cho đời sống của nhân dân ngày càng tốt hơn, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nước chậm phát triển vào năm 2020. Nông nghiệp được xác định là ngành kinh tế chủ đạo của tỉnh Salavan, diện tích dành cho việc sản xuất nông nghiệp là 100. Trong đó, làm ruộng 45.038 ha, diện tích trồng cây công nghiệp hơn 10.000 ha, trồng cà phê 20.
Các loại cây trồng có lúa, lạc, khoai lang, ngô, sắn, dưa hấu, thuốc lá và các loại rau. Cây trồng nhiều nhất là cà phê, lạc, khoai lang, ngô. Về cây ăn quả, có xoài, chuối, cam, mít, nhãn, sầu riêng, me. cây công nghiệp chính được trồng là cao su và cà phê.
Ngành công nghiệp ở tỉnh Salavan chưa phát triển, ngoài nhà máy thủy điện Selabam có công suất 5.5 MW, Seset1 (45 MW) và Seset2 [9, tr.1509-1510], Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –14 ĐHTN http://www.vn Salavan có một số nhà máy chế biến gỗ thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài sang tỉnh để hợp tác với nhà đầu tư Lào. Đó cũng là một trong những nguyên nhân cho người nước ngoài sang Salavan để làm việc và định cư ở đây. Bên cạnh đó, Salavan có nhà máy sản xuất bột ngô - khoai lang mới được xây dựng 5 năm trước. Các nhà máy này không chỉ sản xuất bột ngô - khoai lang mà còn mua, bán ngô và khoai lang, điều này đã thúc đẩy ngành nông nghiệp ở tỉnh Salavan ngày càng phát triển.