Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Nội dung nghiên cứu của chương này tập trung giới thiệu các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế được phân thành các nội dung lý luận và thực tiễn, đồng thời xây dựng hệ giả thuyết nghiên cứu xuyên suốt trong toàn bộ luận án. Qua tổng hợp tình hình nghiên cứu cho thấy tính cấp thiết và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu trong công tác giảng dạy, khoa học và tham vấn chính sách liên quan. Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan tới đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài 1.
Công trình khoa học về lý luận Thị trường các-bon là đề tài nghiên cứu có liên quan tới nhiều lĩnh vực pháp luật với nhiều quan điểm pháp luật khác nhau giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Có thể nhìn nhận hệ thống các công trình nghiên cứu về đề tài này trải rộng về cả số lượng và phạm vi nghiên cứu nhưng gắn liền trước hết tới những vấn đề về môi trường, bảo đảm sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế. Vấn đề thị trường mua bán quyền phát thải còn liên quan tới những xu hướng chung tiến bộ của thế giới về việc thiết lập những chuẩn mực phát triển như: tăng trưởng xanh; nền kinh tế xanh; cơ chế phát triển sạch… Ở góc độ công pháp quốc tế, đề tài nghiên cứu liên quan trực tiếp tới pháp luật điều ước quốc tế, pháp luật môi trường quốc tế và nghĩa vụ quốc gia trong thực thi các cam kết quốc tế về môi trường. Ở góc độ tư pháp quốc tế, nghiên cứu pháp luật liên quan tới thị trường các-bon còn đề cập tới những vấn đề trong quan hệ hợp đồng trong luật quốc tế; giao dịch chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải quốc tế cũng như sự công nhận của cộng đồng đối với giao dịch xuyên biên giới.
Với những vấn đề cơ bản kể trên, nghiên cứu sinh đã tìm kiếm, tập hợp và tổng hợp được một số tài liệu, nghiên cứu liên quan tới từng khía cạnh luật quốc tế của thị trường các-bon để phục vụ quá trình triển khai luận án. Cụ thể như sau: Về những khái niệm, lý luận về quyền phát thải KNK: - Ger Klaassen, Andries Nentjes, Marke Smith (2005), Kiểm chứng lý thuyết về thương mại phát thải: kinh nghiệm thực tiễn về các cơ chế thay thế cho thương mại phát thải toàn cầu (“Testing the theory of emissions trading: Experimental evidence on alternative mechanisms for global carbon trading”), Ecological 15 Economics Vol.53, Issue 1, 1/4/2005, Pages 47-58, Elsevier: nghiên cứu đề cập tới mô hình “đấu giá” và “giao dịch liên tục” như hai mô hình thúc đẩy thị trường mua bán quyền phát thải. Những mô hình và lý thuyết trong nghiên cứu cho thấy sự hình thành một thị trường các-bon cân bằng dưới góc độ nghiên cứu thực tiễn áp dụng ở 06 khu vực phát thải KNK lớn nhất thế giới. Nghiên cứu cũng cho thấy nếu dựa trên lý thuyết chuẩn thì việc đấu giá hay mua bán luân phiên (tương tự như thị trường chứng khoán) đều đem lại cho hoạt động mua bán quyền phát thải KNK sự hấp dẫn và tiết kiệm chi phí.
Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ngược lại với lý thuyết, kết quả kiểm chứng cũng cho thấy không phải quốc gia nào cũng có thể thu được lợi nhuận từ hoạt động thương mại quyền phát thải KNK. Một số nghiên cứu khác được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành phải kể tới như: - George Milunovich, Alison Stegman, Deborah Cotton (2007), Thương mại phát thải: lý thuyết và áp dụng (“Carbon Trading: Theory and Practice”), The Finsia Journal of Applied Finance, ISSUE 3/2007: Nghiên cứu này đã phân tích các sáng kiến quản lý biến đổi khí hậu bao gồm việc xem xét các chương trình kinh doanh các- bon và các luận cứ kinh tế để hỗ trợ các chương trình đó, đồng thời cũng phác thảo các thành tố cấu trúc thị trường các-bon để đạt tối ưu và các điều kiện để thực hiện cải tiến đối với các chương trình kinh doanh các-bon hiện tại. - Environmental Law Institute (2002), Hệ thống thương mại tín dụng phát thải: tổng quan về những kết quả mới nhất và tiếp cận những thực tiễn tốt (“Emission reduction credit trading systems: an overview of recent results and an assessment of best practices”): Nghiên cứu đánh giá kinh nghiệm thực tế triển khai 02 hình thức chính của các chương trình giao dịch tín dụng phát thải giữa các doanh nghiệp được áp dụng trong giai đoạn 1995-2000 gồm: (i) Tín dụng giảm phát thải (Emission Reduction Credit - ERC) được xây dựng theo Đạo luật không khí sạch (Clean Air Act - CAA) và (ii) Tín dụng giảm phát thải rời rạc (Discrete Emission Reduction - DER) được hình thành ở 06 tiểu bang của Hoa Kỳ kể từ năm 1995. Báo cáo đánh giá định tính các chương trình ERC và đánh giá toàn diện các chương trình DER của tiểu bang, đồng thời trình bày dữ liệu về việc tạo ra và sử dụng thực tế các khoản tín dụng DER từ năm 1995-2000, xem xét luật pháp và thông lệ của mỗi bang trong việc thực hiện các chương trình này, và xác định những gì các tác giả tin rằng là các thực hành tốt nhất cho giao dịch tín dụng DER, có tính đến cả môi trường và các yếu tố kinh tế.
- Frances Beinecke, Jeffrey D.Sachs, Fred Krupp, Roger A.Stavins, Charles Komanoff, Eileen Claussen, Baruch Fischhoff (2009), Định giá 16 các-bon: Thương mại hóa hay đánh thuế (“Putting a Price on Carbon: An Emissions Cap or a Tax”), Yale Environment 360, Yale University: Nghiên cứu trình bày quan điểm của các nhà môi trường, nhà khoa học về việc ưu và nhược điểm trong lựa chọn ứng dụng giải pháp thương mại phát thải hay thuế phát thải. Qua phân tích cho thấy, cả hai phương thức kể trên trong thương mại phát thải đều hướng tới kết quả mong muốn là mức giảm CO2 cân đối hợp lý giữa chi phí giảm thiểu và tối đa hóa lợi ích. Tuy nhiên, cả hai phương thức đều phản ánh thực tế cơ chế giá thị trường của CO2 hay mức thuế các-bon vẫn đều tạo ra rủi ro, và không chắc chắn về lợi ích. Tuy nhiên, thương mại phát thải thông qua “cap-and-trade” có lợi thế do khả năng tính toán được mức độ cắt giảm cụ thể.
Ngoài ra, lợi thế của thương mại phát thải còn xuất phát từ giá thị trường của CO2 điều chỉnh tự động và liên tục trong khi thay đổi thường xuyên về thuế carbon gặp khó khăn về mặt hành chính và gây chia rẽ về chính trị. Ott, Wolfgang Sachs (2000), Những khía cạnh đạo đức của thương mại phát thải (“Ethical aspects of Emissions trading”), Wuppertal Papers Nr.2000 (ISSN 0949-5266): Nghiên cứu tập trung phân tích một số vấn đề đạo đức vốn có trong khái niệm “Giao dịch phát thải” (Emission Trading) mặc dù còn khá mới về ứng dụng thực tế, nhưng được ghi nhận kể từ thời điểm bắt đầu của Nghị định thư Kyoto 1997. Vấn đề đạo đức được xem xét dưới góc độ đánh giá “sự tham gia có ý nghĩa” của các nước đang phát triển, việc đưa giao dịch mua bán quyền phát thải KNK vào Nghị định thư là ưu tiên hàng đầu ưu tiên của các nước lớn trong đó có Hoa Kỳ và Liên bang Nga. Quan điểm đạo đức còn được nghiên cứu mở rộng trong thời kỳ hậu Kyoto.
Về những khái niệm, lý luận về thị trường các-bon: Khía cạnh pháp lý của thị trường các-bon là vấn đề không mới nhưng những nghiên cứu liên quan tới vấn đề này chưa nhiều. Ở khía cạnh lí luận chung, những khái niệm, lí thuyết căn bản và nguyên lí trong pháp luật về thị trường các-bon được đề cập khá chi tiết trong các nghiên cứu như: - OECD International Energy Agency (2005), Hành động khu vực, thương mại toàn cầu (“Act locally, trade globally”): Tài liệu cung cấp những quan điểm khái quát và những phân tích về sự tồn tại của các hệ thống mua bán quyền phát thải KNK, những thế mạnh và cả những hạn chế của từng hệ thống cũng như hệ thống cơ sở pháp lý để hình thành. Tài liệu cũng cho thấy những nhu cầu tất yếu của sự hình thành thị trường mua bán quyền phát thải trong lĩnh vực công nghiệp và ở các quốc gia phát triển trên toàn thế giới. Nó cũng chỉ ra được sự phức hợp giữa việc sử dụng năng lượng, phát thải CO2 và phát triển theo hướng tồn tại thị trường phát thải và không 17 tồn tại thị trường phát thải.
Tài liệu cũng gợi mở về dung lượng mua bán quyền phát thải phù hợp với chính sách môi trường cũng như những vấn đề phát sinh về chi phí không chính thức; tính cạnh tranh… - OECD Economics Department (Alain de Serres, Fabrice Murtin, Giuseppe Nicoletti) (2010), Tài liệu làm việc số 774: lộ trình xây dựng chính sách tăng trưởng xanh (“Working Papers No.774: A framework for Assessing green growth policies”): Nghiên cứu khởi xướng một khung phân tích nhằm đánh giá những chính sách góp phần đạt mục tiêu cải thiện vai trò của yếu tố môi trường trong xu hướng phát triển kinh tế. Nghiên cứu gồm hai phần, trong đó phần 1 đưa ra một số tiêu chuẩn và nguyên tắc khi xác định lựa chọn chính sách để cân bằng giữa lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường; phần 2 giải đáp những câu hỏi về sự điều chỉnh về cơ cấu tổ chức quản lý nhằm hướng tới một nền quản trị xanh hơn. Hệ thống giải pháp pháp lý cũng được đề cập khá sâu trong nội dung của nghiên cứu. Công trình khoa học về thực tiễn pháp luật Kinh nghiệm pháp luật đối với các thị trường các-bon được phản ánh khá rõ ràng và đầy đủ thông qua các số liệu được ghi nhận trong báo cáo của các tổ chức hoạt động về môi trường và thúc đẩy phát triển sạch như World Bank, OECD, ICAP, ADB, cụ thể: Về tổng hợp đánh giá hiện trạng thị trường các-bon: - International Carbon Action Partnership (ICAP), Báo cáo hiện trạng 2021 (“Emission Trading Worldwide - Status report 2021”): Báo cáo cho thấy sự đa dạng trong bối cảnh kinh tế - chính trị của các quốc gia đã xây dựng thành công mô hình thị trường mua bán quyền phát thải (ETS).
Theo đó, mỗi hệ thống đang triển khai các cơ quan tài phán nhỏ hơn như tại Quebec và Vermont; hoặc ở cấp độ của các bang/tiểu bang như tại Tokyo và California hoặc ở một cấp độ khu vực rộng lơn hơn cả như tại Liên minh Châu Âu. ETS đã được xây dựng phù hợp với những nền kinh tế có nền công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp và lâm nghiệp lớn mạnh. Nó cũng xuất hiện ở những quốc gia đã áp dụng những nguồn năng lượng mới.