ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm gan virut B là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiếm do virut viêm gan B gây ra. Bệnh tiến triển có thế gây viêm gan cấp tính, viêm gan mãn tính, xơ gan và tử vong do ung thư gan. Mức độ nguy hiểm chỉ sau HIV/AIDS. Theo Tổ chức Y tế Thể giới (WHO), trên thế giới có gần 30% dân số (khoảng 2 tỷ người) nhiễm virut viêm gan B, trong đó có khoảng 350 triệu người mang virut mãn tính, trong số này 3/4 là ở châu Á, (5 - 10% ở người lớn, 70 - 90% ở trẻ em, khoảng một triệu người chết vì xơ gan và ung thư gan mồi năm) [18], Viêm gan virut nhóm B có vai trò đặc biệt quan trọng bởi sự lây truyền qua nhiều đường khác nhau, các đường chủ yểu là đường máu, đường tình dục và đường truyền từ mẹ sang con.
Hơn nữa, tỷ lệ người mang HBsAg không triệu chứng rất cao. Đồng thời virut viêm gan B là loại gây nên nhiều hậu quả nặng nề: viêm gan mãn tính (7%), xơ gan (3%), ung thư gan nguyên phát dẫn đến tử vong sau nhiều năm bị nhiễm [22]. Để phòng nguy cơ lây nhiễm cũng như hậu quả của nhiễm virut viêm gan B, tiêm chủng văcxin viêm gan B là một biện pháp có hiệu quả nhất. Tiêm chủng viêm gan B được lồng ghép trong Chương trình tiêm chủng mở rộng của Tổ chức Y tế Thể giới và Việt Nam đã được thực hiện từ năm 1997.
Việt Nam là nước nằm trong khu vực Đông Nam Ả, là vùng có tỷ lệ lưu hành cao của virut viêm gan B, Tỷ lệ người mang HBsAg dương tính trong cộng đồng dân cư Hà Nội là 11,35% [2], Tỷ lệ người mang HBsAg dương tính ở thanh thiểu niên khoẻ mãnh tuyển chọn lao động là 15,30% [20]. Tại Trường Đại học Nông nghiệp I ngày 30 tháng 10 năm 2004 xét nghiệm 245 sinh viên thì có 16 sinh viên mang HBsAg dương tính. Ngày 2 tháng _3_ 4 năm 2005 xét nghiệm 227 sinh viên thì có 30 sinh viên mang HBsAg dương tính. [28], Trong hơn một thập niên qua các nghiên cứu về viêm gan virut B đã có những tiến bộ đáng kể và nhiều hứa hẹn.
Từ những hiểu biết mới đã dẫn đen những thay đổi đáng kể trong việc chẩn đoán và đã cung cẩp các cơ sở khoa học cho việc tìm kiểm các phương pháp điều trị và phòng ngừa mới. Công tác tuyên truyền phòng bệnh cũng đã được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, người dân cũng đã phần nào hiểu biết về căn bệnh nguy hiếm này, đã có những hành vi tích cực phòng bệnh, tiêm chủng phòng ngừa. Tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh viêm gan B của sinh viên trường để đưa ra một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao sự hiểu biết về bệnh và phòng bệnh cho sinh viên ngay từ khi mới nhập trường và tư vấn điều trị cho các đối tượng có mang vi rút viêm gan B do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống viêm gan B của sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Nông nghiệp I năm 2007”. MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 1.
Mục tiêu chung Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống viêm gan virut B của sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Nông nghiệp I năm 2007. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phù hợp nhàm nâng cao kiến thức hiểu biết về phòng chống lây nhiễm bệnh viêm gan B. Mục tiêu cụ thê 1. Mô tả kiển thức, thái độ và thực hành về phòng chổng viêm gan B của sinh viên.
Mô tả một số yểu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng lây nhiễm trong sinh viên. _4_ Chuong I TÔNG QUAN 1. Dịch tễ học bệnh viêm gan B Viêm gan virut B là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virut viêm gan B gây ra. Năm 1965 Blumberg và các cộng sự đã tìm thấy một loại kháng thế ở hai bệnh nhân được truyền máu nhiều lần.
Kháng thế này có thể phản ứng với một loại kháng nguyên trong mẫu huyết thanh của những bệnh nhân bị viêm gan siêu vi trùng. Năm 1977, Blumberg đã được giải thưởng Nobel nhờ việc phát hiện ra kháng nguyên trong bệnh viêm gan virut nhóm B. Ngày nay kháng nguyên được xác định chính là kháng nguyên bề mặt của virut viêm gan B, viết tắt là HBsAg [13]. Tỷ lệ người mang HbsAg thay đổi khác nhau trên thế giới từ 0,1% dển 0,2% ở Anh Mỹ và Scandinavia, đến hơn 3% ở Hy Lạp và miền nam nước Ý và có thể lên đến 10%-l 1% hoặc hơn nữa ở châu Phi và Viễn Đông trong đó có Đông Nam Á, người mang HbsAg có thể có tỷ lệ rẩt cao trong vài cộng đồng biệt lập như người Eskimo Alaska và người dân bản xứ Australia.
Chính ở người dân bản xứ Australia mà Blumberg đã phát hiện ra HBsAg dưới tên là kháng nguyên Australia. Tại Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về viêm gan B. Mức nhiễm HBV của Việt Nam tương đối cao, tỷ lệ có HbsAg trong cộng đồng nói chung vào khoảng 10-20% (Hoàng Thủy Nguyên, Nguyễn Thu Vân, 1992; Phạm Song và cộng sự 1996.) cho thấy nước ta là nước có dịch HBV địa phương cao. _5_ Virut viêm gan B truyền chủ yếu qua đường máu, thứ yểu qua đường tình dục, rồi đến đường truyền dọc, tiếp xúc.
tùy theo từng vùng dịch HBV. Truyền máu tiếp tục gây nhiễm viêm gan B trong các nước nơi mà máu người cho không được sàng lọc HbsAg. Máu của những người bán máu có nhiều khả năng truyền nhiễm hơn máu của những người cho tình nguyện. Khả năng nhiễm virut theo đường máu bao gồm việc dùng các dụng cụ nhiễm khuẩn trong điều trị răng, xỏ lỗ tai, cắt sửa móng tay, khám thần kinh, tiêm chủng dự phòng, châm cứu và xăm mình.
Những người tiêm chích ma túy nhiễm viêm gan thường do dùng chung các dụng cụ không vô khuẩn. Tỷ lệ tử vong có thể cao trong nhóm này. Nhân viên bệnh viện trong tiếp xúc với bệnh nhân, nhất là máu của người bệnh, thường có tỷ lệ người mang cao hơn cộng đồng chung. Đặc biệt là các nhân viên ở các đơn vị thẩm tách máu hoặc các đơn vị ung thư, Những người phục vụ bệnh nhân bị nhiễm qua tiếp xúc với máu như do tai nạn kim tiêm hoặc dập da.
Phẫu thuật viên và nha sỹ đặc biệt có nguy cơ trong phẫu thuật trên các bệnh nhân có cả hai dấu ấn HBsAg và HBeAg. Lan truyền từ một phẫu thuật viên đến bệnh nhân hiếm gặp và thường xảy ra qua các cuộc mố lớn. Một phẫu thuật viên có HBeAg (+) dù đã tuân thủ đầy đủ các thực hành kiểm soát nhiễm virut, có thể truyền nhiễm HBV cho nhiều bệnh nhân. Tuy các vùng lưu hành cao như châu Phi, Hy Lạp và Hồng Công, sự truyền nhiễm thường trong tuổi thơ ấu và có thể là truyền nhiễm ngang qua hôn hít và dùng chung các dụng cụ như bàn chải đánh răng và dao cạo râu.
Tiếp xúc trong các trung tâm chàm sóc trẻ mẫu giáo ban ngày có khả năng truyền nhiễm virut. Tiếp xúc tình dục trong gia đình cũng có nguy cơ. Trẻ em ở các trung tâm chăm sóc trẻ chậm phát triển tâm thần (đặc biệt ở các trẻ có hội chứng Down) và những người phục vụ cho chúng có một tỷ lệ người mang HBsAg cao [24]. Nhiễm virut thường gặp ở người đồng tính luyển ái và liên quan với thời gian hoạt động đồng tính, số lượng tiếp xúc tình dục và tiểp xúc qua hậu môn.
-6- Trong những vùng có tỷ lệ người mang HbsAg cao, nhiễm virut thường theo đường từ mẹ sang con. Nhiễm virut thường không qua tĩnh mạch rốn, mà chủ yếu vào lúc sinh và trong các tiếp xúc gần gũi mẹ con sau đó. Nguy cơ truyền nhiễm khi tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm HBV cấp thường cao hơn là ở những người mãn tính. Mẹ HBsAg(+) mà HBeAg cũng dương sẽ là nguồn truyền nhiễm HBV cho con quan trọng nhất.
[28] Hiện nay mối quan tâm hàng đầu và mục tiêu nghiên cửu của các phòng thí nghiệm trên toàn cầu là vấn đề như sự kết dính và xâm nhập của virut vào tế bào chủ, các phương pháp điều trị viêm gan B, nhiễm virut cấp tính và mãn tính, cơ chế gây ung thư của HBsAg, sự dung nạp HBsAg mà không có phản ứng nào của cơ thể. Virut viêm gan B được xếp vào họ Hepadnavìridae vì có cấu trúc ADN hình tròn và có một phần sợi kép. Một sợi dài (L) gần như khép kín và một sợi ngắn (S). Quá trình sao chép ADN là quá trình phiên mã ngược nhờ ARN trung gian [22].
Virut viêm gan B ỉà hạt virut có đường kính 40-50 nm, có vỏ bọc Lipoprotein và một lõi nucleocapsit đường kính 27 nm [20]. Virut viêm gan B có sức đề kháng khá cao: Kháng với tia cực tím, Ether 10%, Methiolat 0,05% và có thể bền vững ở nhiệt độ 56% trong vòng 30 phút [18]. Các nghiên cứu hiển vi điện tử đã xác định virut viêm gan B có 3 loại hạt. Kháng nguyên bề mặt (HBsAg) hoặc vỏ bọc của virut viêm gan B có hai dạng: hình cầu hoặc hình ống, đường kính 22nm, loại hạt này thấy nhiều trong huyết tương hơn là hạt Dane (hạt virut viêm gan B hoàn chỉnh).
Hạt Dane có dạng hình cầu đường kính 42nm, bao gồm vỏ bọc bên ngoài và một lõi 20 mặt bên trong có đường kính 27 nm. Những hạt HBsAg cũng có trên bề mặt của hạt Dane [33], [34]. Cơ chế sinh bệnh của viêm gan vỉrut B Kháng nguyên bề mặt vi rút viêm gan B (HBsAg) và antì-HBs HBsAg là kháng nguyên bề mặt của viêm gan virut B. Nó là dấu ấn quan trọng trong các nghiên cứu dịch tễ học để xác định sự nhiễm virut viêm gan B, -7 - yểu tố nguy cơ và phân vùng virut viêm gan B.
Các thử nghiêm phát hiện HBsAg có vai trò quan trọng trong chẩn đoán viêm gan B cấp và mãn tính. Qua các nghiên cứu về HBsAg người ta thấy nó được sản xuất trong bào tương của tế bào gan với nồng độ đôi khi rất lớn [20],[22], nhưng không có trong nhân tể bào gan. HBsAg là dấu ấn xuất hiện sớm nhất trong huyết thanh bệnh nhân sau khi lây nhiễm virut viêm gan B (1-2 tuần sau khi tiếp xúc). Kháng nguyên này có thể thấy trong huyết tương ở giai đoạn cuối của thời kỳ ủ bệnh, trước khi Transaminaza máu đạt đỉnh cao nhất và trước khi vàng da từ một tuần đến một tháng.