Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghiên cứu sự hài lòng. của khách hàng Chương 2: Thiết ế nghiên cứu Chương 3:Kết quả nghiên cứu Chương 4: Hàm ý chính sách và các kiến nghị 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Ở Việt Nam trong những năm gần đây hoạt động lấy ý kiến sinh viên ngày càng được xem trọng hơn với hàng loạt các nghiên cứu khảo sát về việc sử dụng các mô hình chất lượng dịch vụ để đánh giá sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng đào tạo: Tháng 12/2005, tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh Loan và Nguyễn Thị Thanh 'Thoản đã có đề tài nghiên cứu về “Đánh giá chất lượng đào tạo từ góc độ cựu sinh viên của trường ĐH Bách khoa TPHCM” [12]. Bài viết này trình bày kết quả đánh giá chất lượng đảo tạo từ góc độ cựu sinh viên của trường Đại học Bách khoa TP.
HCM ở các khía cạnh: chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và kết quả đào tạo. 479 phản hồi của cựu sinh viên qua bảng câu hỏi thuộc 6 khoa của trường (Điện-Điện tử, Kỹ thuật xây dưng, Công nghệ Hóa học, Cơ khí, Công nghệ thông tin và Quản lý Công nghiệp) đã được xử lý và phân tích trong nghiên cứu này. Kết quả cho thấy cựu sinh viên khá hài lòng về chương trình đào tạo (Trung binh=3.28), kha hai lòng về đội ngũ giảng viên (Trung bình=3.28), hài lòng về mức độ trung bình đối với cơ sở vật chất (Trung bình=3.12) và khá hài lòng về kết quả đào tạo của Nhà trường (Trung bình=3. Trong đó, yếu tố được cựu sinh viên đánh giá cao nhất là tính liên thông của chương trình, giảng viên vững kiến thức chuyên môn.
Bên cạnh đó vẫn còn một số yếu tố bị đánh giá thấp là chương trình đào. tạo chưa có sự phân bố hợp lý giữa lý thuyết và thực hành, chưa được câp nhật, đổi mới thường xuyên, chưa được thiết kế sát với yêu cầu thực tế; phương pháp giảng dạy chưa sinh động và giảng viên chưa khảo sát lấy ý kiến người học; phòng thí nghiệm, thực hành chưa thực sự phục vụ tốt cho công, tác dạy — học và nghiên cứu khoa học. Kết quả đảo tạo được đánh giá cao ở việc có lợi thế cạnh tranh trong công việc và nâng cao khả năng tự học, nhưng, bị đánh giá thấp ở khả năng sử dụng ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp. Qua các kết quả này, tác giả cũng đã nêu ra một số đề xuất nhằm cải tiến chất lượng, đảo tạo của trường.
Tháng 4/2006, tác giả Nguyễn Thành Long, Trường ĐH An Giang đã có bài nghiên cứu “Sử dụng thang đo SERVPERF để đánh giá chất lượng đảo. tạo ĐH tại trường Đại học An Giang” [10]. Mô hình nghiên cứu ban đầu bao. gồm 5 yếu tố tác động đến sự hài lòng: phương tiện hữu hình, tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ, cảm thông và mô hình sau khi hiệu chỉnh là các yếu tố: Giảng viên, Nhân viên, Cơ sở vật chất, Tin cậy và Cảm thông sẽ ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên.
Nghiên cứu được thực hiện qua 2 bước nghiên cứu thử và chính thức trên 635 sinh viên của 4 khoa Sư phạm, Nông nghiệp — Tài nguyên thiên nhiên, Kỹ thuật ~ Công nghệ môi trường và Kinh tế - Quản trị kinh doanh của trường ĐH An Giang. Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy sự hài lòng của sinh viên phụ thuộc vào yếu tố Giảng viên, Cơ sở vật chất, Tin cậy và cảm thông. Nhìn chung, chất lượng dịch vụ dao tao được đánh giá không cao. Trong 5 thành phần chỉ có 2 thành phần trên trung bình là Giảng viên (3.45) và sự tin cậy vào nhà trường (3.27), ba thành phần còn lại xấp xỉ nhau (2.
Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự đánh giá khác nhau theo khoa đối với các thành phần trên (trừ cơ sở vật chất) và có sự đánh giá khác nhau theo năm học, cụ thể là sinh viên học càng nhiều năm càng đánh giá thấp chất lượng dịch vụ của nhà trường. Tương tự như chất lượng dịch vụ đào tạo, mức độ hài lòng của sinh viên đối với trường DH An Giang còn chưa cao. Sự hài lòng của sinh viên tập trung vào thành phần Giảng viên và Cơ sở vật chất, các thành phần khác (Tin cậy, nhân viên, cảm thông) có tác động không lớn đến sự hài lòng. Nghiên cứu này cũng trình bày một số hạn chế như sau: việc lấy mẫu ngẫu nhiên theo đơn vị lớp ở các khoa có thể làm cho tính đại diện của kết quả không cao, chưa có sự phân biệt về giảng viên cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng trogn đánh giá của sinh viên, do đó không xác định được nhận định của sinh viên đối với giảng viên của Nhà trường và nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đo lường, tìm hiểu các mối quan hệ và đưa ra một số gợi ý đề lý giải mà chưa có sự phân tích sâu.
Tại khoa Kinh tế và Quản lý, trường ĐH Bách khoa Hà Nội, tác giả Vũ Trí Toàn với sự hướng dẫn của ThS. Đinh Tiến Dũng đã trình bày đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu về chất lượng đào tạo của khoa Kinh tế và Quản lý theo mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL” [9]. Tác giả đã dựa vào mô hình SERVQUAL của Gronroos để đưa ra mô hình chất lượng dịch vụ đào tạo gồm 5 yếu tố. Mô hình đã được tác giả thử nghiệm trên toàn bộ sinh viên hai khoa 47 và 48 (299 sinh viên) đang theo học tại khoa Kinh tế và Quản lý.
Nghiên cứu này sử dụng thang đo Likert gồm 7 mức độ: 1 là hoàn toàn phản đối và 7 là hoàn toàn đồng ý. Kết quả nghiên cứu của đề tài này cho. thấy sinh viên tỏ ra khá hài lòng với chương trình đào tạo của khoa. Sinh viên hài lòng ở mức độ khá cao với trình độ chuyên môn và trình độ sư phạm của giảng viên trong khoa.
Nghiên cứu còn khẳng định mô hình SERVQUAL của Gronroos rất hữu ích trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ đào tạo. Tắt cả các mối liên hệ trong mô hình đề có ý nghĩa trong kết quả nghiên cứu. Mặc dù chương trình đào tạo của khoa được các sinh viên đánh giá khá cao, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục và tác giả cũng đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của khoa này. Nam 2008, téc giả Trần Thị Tú Anh trình bày luận văn thạc sĩ Quản lý Giáo dục đề tài “Nghiên cứu đánh giá chất lượng giảng dạy đại học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền” [14].
Đề tài được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Xuân Thanh, Cục Khảo thí và Kiểm định CLGD, Bộ GD-ĐT, 'Nghiên cứu này tập trung làm rõ khái niệm “chất lượng hoạt động giảng dạy” được chấp nhận như thế nào tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền sau đó đề ra những tiêu chí, phương pháp tiếp cận và công cụ đánh giá để đo lường chất lượng hoạt động giảng dạy tại Học viện. Đối với đánh giá chất lượng giảng, dạy môn học, nghiên cứu đưa ra Š tiêu chí đánh giá là: Mục tiêu môn học, Phương pháp giảng dạy, Nội dung môn học, Tài liệu học tập và Hoạt động kiểm tra, đánh giá. Sau khi đưa ra các tiêu chí và các chỉ số, tác giả đã thiết lập nên bảng hỏi đánh giá chất lượng giảng dạy môn học gồm 10 câu hỏi theo.
thang đo Likert 5 mức độ và tiến hành lấy ý kiến được 1764 sinh viên từ 27 lớp thuộc 15 khoa của học viện để đánh giá chất lượng giảng dạy 46 môn học. Kết quả cho thấy chất lượng giảng dạy các môn học tại học viện là không đồng đều. Khoảng cách chất lượng giữa những môn giảng dạy tốt nhất và kém nhất tương đối xa. Ngoài ra, kết quả phân tích còn cho thấy sự khác nhau về mức độ hài lòng của sinh viên với chất lượng giảng dạy môn học giữa các khoa.
Bên cạnh đó nghiên cứu cũng đưa ra 5 tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy khóa học bao gồm: Nội dung chương trình đào tạo, Cấu trúc chương trình đào tạo, Trang thiết bị dạy học, Hoạt động giảng dạy và Đánh giá chung toàn khóa học. Bảng hỏi dùng để đánh giá khóa học được thiết kế theo thang đo Likert 1 — 4 (không đồng ý, đồng ý một phần, đồng ý về cơ bản, hoàn toàn đồng ý) và I ~ 3 mức độ (quá nhiều, vừa, qu: và tiến hành khảo. sát đối với 142 cán bộ giảng dạy và quản lý. quả thống kê cho thấy hau hết giảng viên và cán bộ quản lý đều đồng ý về cơ bản hoặc hoàn toàn đồng ý với các nhận định đưa ra trong bảng hỏi (85%).
Điều đó có ý nghĩa là giảng viên và cán bộ quản lý đánh giá chất lượng chương trình của học viện là chấp nhận được. Từ các kết quả phân tích đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy tại học viện cho từng đối tượng như: Nhà trường, Giảng viên và sinh viên. Một nghiên cứu khác về các yếu tố tác động đến sự hài lòng là nghiên. cứu của tác giả Trần Xuân Kiên với đề tài “Đánh giá sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo tại trường ĐH Kinh tế và Quản trị Kinh doanh — Dai học Thái Nguyên” [15].
Nghiên cứu này khảo sát trên 260 sinh viên thuộc năm 2,3,4 của trường và dựa vào thang đo SERVQUAL bao gồm 5 thành phần (Cơ sở vật chất, Sự nhiệt tình của Cán bộ và Giảng viên, Đội ngũ Giảng, viên, Khả năng thực hiện cam kết và Sự quan tâm của nhà trường tới sinh viên) để xác định sự hài lòng của sinh viên. Sau khi phân tích Cronbach"s Alpha, phân tích nhân tố EFA và phân tích hồi quy cho thấy sự hài lòng của sinh viên phụ thuộc vào 5 thành phần trên với sự phù hợp giữa mô hình và dữ liệu là 87. Ngoài ra, tác giả còn kiểm định một số giả thuyết cho thấy mức. đô hài lòng của sinh viên tại trường không khác nhau theo năm học, khoa và học lực nhưng khác nhau theo giới tính.
Kết quả này có sự khác biệt đối với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Long tại trường ĐH An Giang (có sự khác biệt về mức độ hải lòng theo khoa, theo năm học nhưng không có sự khác biệt về mức độ hài lòng theo học lực và giới tính). Tương tự với đề tài nghiên cứu của tác giả Vũ Trí Toàn, tác giả Nguyễn Thị Trang với sự hướng dẫn của TS.