Thực trạng kiến thức về các biện pháp phòng tránh thai của sinh viên điều dưỡng trường đại học điều dưỡng nam định năm 2022

Bài viết phân tích kiến thức về biện pháp phòng tránh thai của sinh viên điều dưỡng tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định năm 2022.

Chuyên ngành

Hộ Sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2022

78
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Các biện pháp tránh thai

1.2. Các biện pháp tránh thai hiện đại

1.3. Các biện pháp tránh thai truyền thống

1.4. Các biện pháp tránh thai khác

1.5. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của sinh viên đối với việc phòng tránh thai

1.6. Cơ sở thực tiễn

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VỀ CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.2. Giới thiệu sơ lược về Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

2.3. Đối tượng nghiên cứu

2.4. Thời gian nghiên cứu

2.5. Địa điểm nghiên cứu

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.7. Kết quả khảo sát

2.8. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

2.9. Kiến thức về các biện pháp tránh thai

2.10. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về các biện pháp tránh thai

3. CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN

3.1. Kiến thức về các biện pháp tránh thai

3.2. Kiến thức chung về các BPTT

3.3. Kiến thức về biện pháp tránh thai khẩn cấp

3.4. Kiến thức về bao cao su

3.5. Kiến thức về thuốc tránh thai hàng ngày

3.6. Đánh giá mức độ kiến thức của sinh viên về các biện pháp tránh thai

3.7. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về các biện pháp tránh thai của sinh viên

3.8. Liên quan giữa kiến thức về các biện pháp tránh thai và giới tính của sinh viên

3.9. Liên quan giữa kiến thức về các biện pháp tránh thai và quê quán nơi ở của sinh viên

3.10. Liên quan giữa kiến thức về các biện pháp tránh thai và việc sinh viên có người yêu

3.11. Liên quan giữa kiến thức về các biện pháp tránh thai và dân tộc, tôn giáo của sinh viên

3.12. Liên quan giữa kiến thức về các biện pháp tránh thai và nguồn thông tin của sinh viên

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN

4.1. Kiến thức về các biện pháp tránh thai của sinh viên Điều dưỡng năm thứ nhất Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

4.2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của SV về các BPTT

5. CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: PHIẾU PHỎNG VẤN KIẾN THỨC VỀ CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

Phụ lục 2: THANG ĐIỂM CHẤM KIẾN THỨC VỀ CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

Phụ lục 3: DANH SÁCH SINH VIÊN ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiến thức phòng tránh thai của sinh viên điều dưỡng Nam Định 2022

Năm 2022, sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đối mặt với nhiều thách thức trong việc nắm bắt kiến thức về các biện pháp phòng tránh thai. Tình trạng nạo phá thai cao tại Việt Nam cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản. Việc hiểu biết đúng đắn về các biện pháp tránh thai không chỉ giúp sinh viên bảo vệ sức khỏe bản thân mà còn góp phần giảm thiểu tỷ lệ nạo phá thai trong cộng đồng.

1.1. Tầm quan trọng của kiến thức phòng tránh thai

Kiến thức về phòng tránh thai giúp sinh viên điều dưỡng hiểu rõ hơn về sức khỏe sinh sản. Điều này không chỉ bảo vệ bản thân mà còn nâng cao trách nhiệm xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

1.2. Thực trạng kiến thức phòng tránh thai của sinh viên

Nghiên cứu cho thấy nhiều sinh viên điều dưỡng vẫn thiếu kiến thức cơ bản về các biện pháp tránh thai. Điều này dẫn đến việc sử dụng không hiệu quả các biện pháp, làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn.

II. Vấn đề và thách thức trong việc phòng tránh thai của sinh viên điều dưỡng

Sinh viên điều dưỡng Nam Định gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về phòng tránh thai. Các yếu tố như thiếu giáo dục giới tính, áp lực xã hội và sự e ngại khi tìm kiếm thông tin đã ảnh hưởng đến nhận thức của họ. Điều này cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả phòng tránh thai.

2.1. Thiếu thông tin và giáo dục giới tính

Nhiều sinh viên không được trang bị kiến thức đầy đủ về sức khỏe sinh sản và các biện pháp tránh thai. Điều này dẫn đến việc họ không biết cách sử dụng các biện pháp một cách hiệu quả.

2.2. Áp lực xã hội và tâm lý

Sự e ngại khi thảo luận về vấn đề tình dục và phòng tránh thai trong môi trường học đường khiến sinh viên không dám tìm kiếm thông tin cần thiết. Điều này làm giảm khả năng tiếp cận các biện pháp an toàn.

III. Phương pháp nâng cao kiến thức phòng tránh thai cho sinh viên điều dưỡng

Để cải thiện kiến thức về phòng tránh thai, cần áp dụng các phương pháp giáo dục hiệu quả. Các chương trình đào tạo, hội thảo và hoạt động ngoại khóa có thể giúp sinh viên tiếp cận thông tin một cách dễ dàng và thoải mái hơn.

3.1. Tổ chức các buổi hội thảo về sức khỏe sinh sản

Hội thảo về sức khỏe sinh sản sẽ giúp sinh viên có cơ hội giao lưu, trao đổi và học hỏi từ các chuyên gia. Điều này sẽ nâng cao nhận thức và kiến thức của họ về các biện pháp phòng tránh thai.

3.2. Cung cấp tài liệu và nguồn thông tin đáng tin cậy

Cần phát hành các tài liệu giáo dục về phòng tránh thai và sức khỏe sinh sản. Sinh viên có thể dễ dàng tiếp cận thông tin từ các nguồn đáng tin cậy như sách, trang web y tế và các tổ chức phi chính phủ.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về kiến thức phòng tránh thai

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nâng cao kiến thức về phòng tránh thai có thể giảm thiểu tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn trong sinh viên. Các biện pháp giáo dục hiệu quả sẽ giúp sinh viên tự tin hơn trong việc sử dụng các biện pháp tránh thai.

4.1. Kết quả khảo sát về kiến thức phòng tránh thai

Khảo sát cho thấy chỉ có 40% sinh viên nắm rõ các biện pháp tránh thai hiện đại. Điều này cho thấy cần có sự can thiệp kịp thời để cải thiện tình hình.

4.2. Ảnh hưởng của kiến thức đến hành vi sử dụng biện pháp tránh thai

Sinh viên có kiến thức tốt về phòng tránh thai có xu hướng sử dụng các biện pháp an toàn hơn. Điều này chứng tỏ rằng giáo dục là chìa khóa để giảm thiểu tình trạng mang thai ngoài ý muốn.

V. Kết luận và tương lai của kiến thức phòng tránh thai

Việc nâng cao kiến thức về phòng tránh thai cho sinh viên điều dưỡng Nam Định là một nhiệm vụ cấp bách. Cần có sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để tạo ra một môi trường giáo dục tích cực, giúp sinh viên tự tin hơn trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản.

5.1. Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe sinh sản

Giáo dục sức khỏe sinh sản không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ về các biện pháp tránh thai mà còn nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

5.2. Định hướng tương lai cho sinh viên điều dưỡng

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sinh viên. Điều này sẽ góp phần tạo ra một thế hệ sinh viên có kiến thức và trách nhiệm hơn trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản.

15/07/2025
Thực trạng kiến thức về các biện pháp phòng tránh thai của sinh viên điều dưỡng trường đại học điều dưỡng nam định năm 2022

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các biện pháp tránh thai Tránh thai là một nội dung quan trọng trong chăm sóc SKSS. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong năm 2015, 64% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên thế giới có sử dụng một BPTT, 57% sử dụng một BPTT hiện đại [60]. Tại Việt Nam, năm 2018, theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ sử dụng viên thuốc tránh thai (VTTT) là cao nhất chiếm 47,6%, tiếp đến là sử dụng bao cao su (BCS) 39%, dụng cụ tử cung (DCTC) chiếm 13,2%, cuối cùng là triệt sản chỉ chiếm 0,2% [25].

Các BPTT được chia làm 2 loại chính là: các BPTT hiện đại và các BPTT truyền thống 1. Các biện pháp tránh thai hiện đại 1. Bao cao su Bao cao su (BCS) là BPTT an toàn, có hiệu quả phòng chống HIV/AIDS và STDs. Ở Việt Nam chỉ có 3% dân số sử dụng BCS trong khi đó các nước phát triển có tỉ lệ sử dụng BCS lên đến 13% [26].

Nếu sử dụng BCS đúng, khả năng có thai khi dùng là 2% (thất bại đặc hiệu của phương pháp) [27]. BCS được cho là không đáng tin cậy như các BPTT khác, với tỉ lệ hỏng hóc lên đến 18% trong năm đầu tiên sử dụng [59]. Đa số BCS hiện nay được làm bằng nhựa latex hoặc polyurethane. BCS bằng polyurethane nhạy cảm hơn BCS bằng latex nhưng tỷ lệ thủng và tuột cao hơn (lần lượt là 7,2% và 3,6% so với 1,1% và 0,6%) [63].

• Cơ chế tác dụng Bcs nam làm bằng ngựa latex mỏng để lồng vào vào dương vật cương cứng trước khi giao hợp. Khi lồng BCS vào dương vật sẽ có một khoảng trống 1cm ở đầu bao có tác dụng chứa và ngăn không cho tinh trùng vào âm đạo nên không xảy ra quá trình thụ tinh. BCS nữ khi đặt vào âm đạo thì cơ chế tác dụng cũng như vậy [49]. Một số loại bao cao su • Chỉ định và chống chỉ định - Chỉ định: dùng cho tất cả các trường hợp muốn tránh thai; phòng chống HIV/AIDS và STDs; là biện pháp tránh thai hỗ trợ (những ngày đầu sau thắt ống dẫn tinh, quên uống thuốc tránh thai).

- Chống chỉ định: dị ứng với latex (đối với loại bao cao su có latex) hoặc các thành phần có trong bao cao su [3], [61]. • Ưu điểm và hạn chế - Ưu điểm: Bảo vệ và phòng chống STDs và HIV/AIDS. An toàn, không có tác dụng phụ của nội tiết. Hiệu quả cao, 98% nếu sử dụng đúng.

Dễ sử dụng, có sẵn, có thể mang theo người, rẻ tiền. Có thể sử dụng bất kì thời gian nào. Giúp cho nam giới có trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình. Tiện lợi khi muốn tránh thai tạm thời.

Người phụ nữ có thể chủ động ngừa thai được đồng thời phòng tránh STDs. - Hạn chế: Phải luôn sẵn có. Có thể bị tuột, rách trong khi đang giao hợp nếu bảo quản không tốt. Có một số trường hợp dị ứng với latex.

Một số cặp vợ chồng than phiền về mức độ giảm khoái cảm. Làm trào tinh dịch. Đối với BCS nữ, người dùng phải biết cách sử dụng tốt thì mới tránh được thất bại [64]. • Cách sử dụng và bảo quản: Kiểm tra trước về sự nguyên vẹn của bao cao su và hạn sử dụng.

Mỗi lần giao hợp đều phải sử dụng bao cao su mới. - Đối với BCS nam: Lồng BCS vào dương vật đang cương trước khi giao hợp, giữ cho vành cuộn của bao nằm phía ngoài. Tháo cuộn vành bao lên tới gốc dương vật, không cần kéo căng. Sau khi xuất tinh, rút dương vật ra lúc còn cương, 5 giữ chặt vành BCS ở gốc dương vật trong khi rút dương vật ra để bao khỏi bị tuột và tinh dịch không trào ra ngoài.

Chỉ sử dụng mỗi BCS 1 lần. - Đối với nữ: Đặt hẳn vào trong âm đạo trước khi giao hợp. Cầm lấy vòng tròn nhỏ bóp méo đưa nghiêng vào trong âm đạo, vòng tròn này sẽ bung ra che kín cổ tử cung. Vòng trong to nằm ngoài, phủ kín các môi lớn và vùng tiền đình.

BCS nữ có thể đặt trước vài giờ nhưng cần tháo sớm sau khi giao hợp xong, trước khi ngồi dậy để tránh không cho tinh dịch trào ra ngoài [18]. - Đối với người nhiễm HIV: BCS là BPTT duy nhất có thể phong chống được STDs. Khách hàng HIV(-) hoặc AIDS hoặc đang điều trị thuốc kháng virus nên sử dụng BCS, có thể kết hợp với BPTT khác. Khi sử dụng đúng cách, thường xuyên, BCS giúp ngăn ngừa lây nhiễm HIV và các bệnh STDs [53] - Bảo quản BCS: ở nơi kín đáo, thoáng mát và tránh ánh nắng trực tiếp từ mặt trời hoặc bị ẩm ướt • Những sự cố và xử trí - Nếu bao cao su bị rách: Rửa dương vật và âm hộ bằng nước sạch hoặc thuốc diệt tinh trùng (nếu có).

Cần áp dụng BPTT khẩn cấp như sử dụng viên thuốc tránh thai khẩn cấp. - Nếu có ngứa hoặc nổi ban tại bộ phận sinh dục: Đi khám để được các nhân viên y tế tư vấn. - Nam giới không duy trì được độ cương khi mang hoặc sử dụng bao cao su:Thường do bối rối, chưa quen sử dụng. Có thể dùng bao cao su có chất bôi trơn hoặc sử dụng nước/chất bôi trơn bên ngoài bao [4], [39].

Thuốc tránh thai - Đây là BPTT được sử dụng rộng rãi, khoảng 20% phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai ở các nước phát triển, 28% ở châu Mỹ và 50% ở Bắc Phi [61]. Cơ chế tác dụng: làm đầy chất nhầy cổ tử cung và làm mỏng nội mạc tử cung. Nội mặc tử cung là nơi trứng được cấy sau khi thụ tinh. Ngoài ra thuốc chỉ có progestin có thể ngăn ngừa rụng trứng [4].

• Thuốc viên tránh thai kết hợp: 6 Hình 1. Một loại viên thuốc tránh thai hàng ngày Viên thuốc tránh thai (VTTT) kết hợp có chứa 2 loại nội tiết là estrogen và progestin được gọi là VTTT kết hợp. Đây là BPTT tạm thời, không giúp ngăn ngừa STDs và HIV/AIDS [4]. - Chỉ định và chống chỉ định: + Chỉ định: VTTT kết hợp được chỉ định cho phụ nữ muốn sử dụng một BPTT hiệu quả cao và không có chống chỉ định.

+ Chống chỉ định: Có thai hoặc nghi ngờ có thai. Đang cho con bú trong vòng 6 tuần sau sinh. Lớn tuổi (≥ 35 tuổi) và hút thuốc lá thường xuyên ≥ 15 điếu/ngày. Tăng huyết áp: huyết áp tâm thu ≥ 160 mmHg.

Huyết áp tâm trương ≥ 100 mmHg. Đã hoặc bị bệnh lý tim mạch và đông máu. Sắp phẫu thuật nằm trên 1 tuần [4]. - Ưu điểm và hạn chế: + Ưu điểm: tránh thai theo thời hạn tùy mong muốn; hiệu quả tránh thai cao (khoảng 99%); an toàn cho phần lớn phụ nữ; có thể có thai sau khi dừng thuốc; giảm nguy cơ mắc: ung thư phụ khoa, chửa ngoài tử cung; tạo vòng kinh đều; có thể sử dụng ở bất kỳ tuổi nào; không ảnh hưởng đến tình dục.

+ Hạn chế: phải phụ thuộc vào việc phải uống hàng ngày; phải có dịch vụ cung cấp thuốc đầy đủ, đều đặn; làm giảm tiết sữa khi cho con bú; có một số tác dụng không mong muốn thường gặp trong 3 tháng đầu; không phòng tránh được STDs [4]. - Thời điểm sử dụng: Nếu không sử dụng BPTT sẽ bắt đầu uống thuốc ngày đầu tiên của chu kỳ kinh hoặc trong 7 ngày sau phá, sảy thai. Nếu đang sử dụng 7 BPTT nội tiết sẽ bắt đầu uống ngay lập tức, nếu đang sử dụng liên tục và đúng cách hoặc nếu biết chắc là không có thai. Nếu đang sử dụng BPTT không nội tiết sẽ bắt đầu uống thuốc trong vòng 5 ngày đầu tiên của chu kỳ kinh.

Những người đang sử dụng dụng cụ tránh thai trong tử cung có thể lấy dụng cụ ra ở thời điểm này. - Cách sử dụng thuốc tránh thai kết hợp: Uống mỗi ngày 1 viên, nên vào giờ nhất định để dễ nhớ, uống theo chiều mũi tên trên vỉ thuốc (vỉ thuốc nên dán ngày để tránh quên). Với vỉ 21 viên sau khi uống hết vỉ thuốc nghỉ 7 ngày rồi tiếp tục uống vỉ kế tiếp đến hết vỉ. Với vỉ 28 ngày khi uống hết vỉ phải uống viên đầu tiên của vỉ kế tiếp vào ngày hôm sau.

- Tác dụng không mong muốn: Thường gặp vào 03 tháng đầu và giảm dần như: buồn nôn; cương vú do estrogen; đau đầu nhẹ; ra máu âm đạo thấm giọt hoặc chảy máu ngoài kỳ kinh; không ra máu kinh nguyệt hoặc hành kinh ít. Các dấu hiệu báo động: đau đầu nặng; đau dữ dội vùng bụng; đau nặng vùng ngực; đau nặng ở bắp chân; có các vấn đề về mắt (mất thị lực, nhìn nhòe, nhìn một thấy hai) và vàng da [5], [11], [65]. Cách xử trí sau khi quên hoặc nôn sau uống: Quên 1 viên: Uống ngay một viên khi nhớ ra, rồi đến giờ uống thuốc hàng ngày uống 1 viên như thường lệ. Quên 2 viên: Uống ngay 2 viên khi nhớ ra, ngày hôm sau đến giờ uống thuốc hàng ngày uống 2 viên, rồi tiếp tục như thường lệ.

Dùng BPTT hỗ trợ (bao cao su) trong 7 ngày kể từ ngày quên thuốc, nếu có giao hợp.Nếu quên từ 3 viên trở lên: Bỏ vỉ thuốc và bắt đầu dùng vỉ mới. Dùng biện pháp hỗ trợ (bao cao su) trong 7 ngày kể từ ngày dùng vỉ mới, nếu có giao hợp.Quên uống viên thuốc nhắc (từ viên thứ 22 đến viên thứ 28): bỏ viên thuốc quên, uống tiếp viên thuốc kế tiếp. Nôn trong vòng 2 giờ sau uống thuốc; nôn nhiều và tiêu chảy sau uống thuốc: cần tiếp tục uống như thường lệ, đồng thời áp dụng BPTT hỗ trợ trong 7 ngày sau khi ngừng nôn, tiêu chảy [4], [11]. • Viên thuốc tránh thai chỉ có progestin liều nhỏ: Đây là BPTT tạm thời, chứa một lượng nhỏ progestin, không có estrogen.

Thuốc đặc biệt thích hợp với phụ nữ đang cho con bú; phụ nữ có chống chỉ định với thuốc tránh thai phối hợp [4], [11]. • Thuốc tiêm: - Đối tượng có thể tiêm thuốc tránh thai: những người có tình trạng sau 8 không nên tiêm thuốc tránh thai: từng bị ung thư vú trong vòng 5 năm gần đây, xuất huyết âm đạo không rõ nguyên nhân, bệnh mạch máu, tim mạch, đột quỵ, bệnh suy giảm hệ miễn dịch, bệnh loãng xương [51]. - Ưu điểm khi tiêm thuốc tránh thai: hiệu quả tránh thai hơn 99%. Thuốc không ảnh hưởng đến hoạt động tình dục.

Bạn không phải nhớ uống thuốc mỗi ngày hay trước khi quan hệ. Thuốc tránh thai trong thời gian dài. - Nhược điểm: gây rối loạn chu kì kinh nguyệt. Bạn phải thường xuyên đi bệnh viện tiêm thuốc.

Không bảo vệ bạn khỏi STDs. Bạn cần phải có một măm để mang thai trở lại sau khi tiêm thuốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ