Kiểm Tra, Kiểm Soát Theo Thẩm Quyền Cảnh Sát Biển Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu kiểm tra kiểm soát theo thẩm quyền cảnh sát biển việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2005

136
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ PHÁT SINH TỪ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TUẦN TRA KIỂM SOÁT TRÊN BIỂN

1.1. CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982

1.1.1. Vùng tiếp giáp lãnh hải

1.1.2. Vùng đặc quyền kinh tế

1.1.3. Thềm lục địa

1.1.4. Quyền truy đuổi

1.1.5. Bảo vệ và giữ gìn môi trường biển

1.1.6. Nghiên cứu khoa học biển

1.2. ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG

1.2.1. Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia

1.2.2. Hiệp định phân định ranh giới trên biển giữa Việt Nam – Thái Lan

1.2.3. Các Hiệp định trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam – Trung Quốc

2. CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT TRÊN BIỂN

2.1. CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ TRÊN CÁC VÙNG BIỂN

2.1.1. Tiếp giáp lãnh hải

2.1.2. Đặc quyền kinh tế

2.1.3. Thềm lục địa

2.2. CÁC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM SOÁT TRÊN CÁC VÙNG BIỂN

2.2.1. Kiểm soát trong nội thuỷ

2.2.2. Kiểm soát trong lãnh hải

2.2.3. Kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải

2.2.4. Kiểm soát trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

3. CHƯƠNG 3: HOẠT ĐỘNG CỦA CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TUẦN TRA, KIỂM SOÁT TRÊN BIỂN

3.1. TỔ CHỨC KIỂM TRA, KIỂM SOÁT TRÊN BIỂN

3.1.1. Nhiệm vụ của các lực lượng kiểm tra, kiểm soát trên biển

3.1.2. Các lực lượng kiểm soát trên biển

3.2. TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM

3.2.1. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

3.2.2. Hệ thống tổ chức của lực lượng Cảnh sát biển

3.2.3. Nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát biển

3.2.4. Thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển

3.3. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH KIỂM TRA, KIỂM SOÁT TRÊN BIỂN VÀ KIẾN NGHỊ

3.3.1. Thực trạng tình hình kiểm tra, kiểm soát trên biển

3.3.2. Kiến nghị

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kiểm Tra Kiểm Soát Cảnh Sát Biển VN

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) là nền tảng pháp lý quốc tế, xác định chủ quyền biển, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển. UNCLOS mở rộng phạm vi pháp lý so với Công ước 1958, bổ sung quyền năng pháp lý cho quốc gia ven biển, từ đó mở rộng thẩm quyền kiểm soát trên các vùng biển. Các tranh chấp biên giới, phân định biển, hoạt động hàng hải, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, tìm kiếm cứu nạn ngày càng phức tạp. Việt Nam tăng cường kiểm tra Cảnh sát biển, kiểm soát để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, thực hiện nghiêm túc pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế. Việc thành lập Cảnh sát biển Việt Nam (1998) là tất yếu để quản lý an ninh trật tự, bảo đảm thi hành pháp luật trên biển.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Thẩm Quyền Cảnh Sát Biển Hiện Nay

Trong bối cảnh thế giới hướng ra biển và Việt Nam phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ an ninh quốc phòng, Biển Đông tiềm ẩn nhiều tranh chấp. Cần xây dựng lực lượng chuyên trách giải quyết vấn đề một cách mềm dẻo, bảo vệ tính mạng, tài sản của tổ chức, cá nhân hoạt động trên biển. Cảnh sát biển đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi pháp luật và bảo vệ chủ quyền biển.

1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Về Kiểm Soát Cảnh Sát Biển Việt Nam

Nghiên cứu tập trung vào các quy định của điều ước quốc tế, pháp luật Việt Nam cho phép Cảnh sát biển thực hiện quyền hạn kiểm tra, kiểm soát trên biển. Trọng tâm là Công ước Luật Biển 1982 và các điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam ký kết. Nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền Cảnh sát biển.

II. Luật Cảnh Sát Biển Việt Nam Quyền và Nghĩa Vụ Tuần Tra

Công ước Luật Biển 1982 quy định về quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển trong các vùng biển khác nhau. Trong nội thủy, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn. Trong lãnh hải, quyền chủ quyền bị hạn chế bởi quyền đi qua vô hại của tàu thuyền nước ngoài. Cảnh sát biển có quyền kiểm soát tàu thuyền, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ an ninh quốc gia. Tuy nhiên, việc thực thi quyền này phải tuân thủ các quy định của Công ước và pháp luật quốc tế. Việc kiểm soát phải đảm bảo không cản trở quyền đi qua vô hại, trừ trường hợp cần thiết để bảo vệ an ninh.

2.1. Kiểm Soát Cảnh Sát Biển Trong Vùng Nội Thủy Chi Tiết

Nội thủy là vùng nước phía trong đường cơ sở, được coi là một bộ phận lãnh thổ quốc gia. Quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, triệt để và đầy đủ trong nội thủy, bao gồm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mọi hành vi vi phạm trên các lĩnh vực an ninh, chủ quyền, thuế khóa, hải quan, khai thác tài nguyên đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cảnh sát biển có quyền kiểm tra bất kỳ tàu nào có dấu hiệu vi phạm và áp dụng biện pháp ngăn ngừa.

2.2. Quyền Hạn Cảnh Sát Biển Trong Lãnh Hải Phân Tích

Lãnh hải là vùng nước nằm ngoài đường cơ sở, rộng tối đa 12 hải lý. Quốc gia ven biển có quyền kiểm soát như trong nội thủy và đất liền, nhưng bị hạn chế bởi quyền đi qua vô hại. Cảnh sát biển có quyền kiểm soát việc đi qua vô hại, ngăn chặn hành vi gây hại đến hòa bình, trật tự, an ninh quốc gia. Quyền này được thực hiện theo các quy định của Công ước Luật Biển và pháp luật quốc tế.

2.3. Hoạt Động Tuần Tra Cảnh Sát Biển Tàu Ngầm và Năng Lượng Hạt Nhân

Công ước Luật Biển quy định về kiểm soát tàu ngầm và tàu có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân. Tàu ngầm phải đi nổi và treo cờ quốc tịch khi đi qua lãnh hải. Tàu chở chất phóng xạ phải mang đầy đủ tài liệu và áp dụng biện pháp phòng ngừa đặc biệt. Cảnh sát biển có quyền kiểm soát việc tuân thủ các quy định này để bảo đảm an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường.

III. Thực Thi Pháp Luật Trên Biển Nhiệm Vụ Của Cảnh Sát Biển

Việc thực thi pháp luật trên biển là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Cảnh sát biển. Nhiệm vụ này bao gồm kiểm tra, kiểm soát tàu thuyền, ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại, bảo vệ tài nguyên biển, phòng chống ô nhiễm môi trường, tìm kiếm cứu nạn. Cảnh sát biển có quyền xử phạt vi phạm hành chính, khởi tố vụ án hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật trên biển. Việc thực thi pháp luật phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế.

3.1. Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Thẩm Quyền Của Cảnh Sát Biển

Cảnh sát biển có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong vùng biển Việt Nam. Các hành vi này bao gồm vi phạm quy định về an toàn hàng hải, khai thác tài nguyên trái phép, gây ô nhiễm môi trường, buôn lậu, gian lận thương mại. Mức phạt được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật.

3.2. Ngăn Chặn Buôn Lậu Trên Biển Vai Trò Của Cảnh Sát Biển

Buôn lậu trên biển là một vấn đề nhức nhối, gây thất thu ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Cảnh sát biển đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại trên biển. Các biện pháp nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện, bắt giữ các đối tượng buôn lậu và hàng hóa trái phép.

3.3. Tìm Kiếm Cứu Nạn Trên Biển Trách Nhiệm Của Cảnh Sát Biển

Tìm kiếm cứu nạn là một nhiệm vụ nhân đạo quan trọng của Cảnh sát biển. Khi có tai nạn xảy ra trên biển, Cảnh sát biển có trách nhiệm tổ chức tìm kiếm, cứu vớt người bị nạn, bảo vệ tài sản. Công tác tìm kiếm cứu nạn được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả và an toàn.

IV. Hợp Tác Quốc Tế Cảnh Sát Biển Bảo Vệ An Ninh Biển

Hợp tác quốc tế là một yếu tố quan trọng để bảo vệ an ninh biển, giải quyết các thách thức chung. Cảnh sát biển Việt Nam tích cực tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới. Các hoạt động hợp tác bao gồm trao đổi thông tin, đào tạo, diễn tập chung, tuần tra chung. Hợp tác quốc tế giúp tăng cường năng lực, nâng cao hiệu quả hoạt động của Cảnh sát biển.

4.1. Diễn Tập Chung Cảnh Sát Biển Nâng Cao Năng Lực

Diễn tập chung là một hình thức hợp tác hiệu quả, giúp Cảnh sát biển các nước nâng cao năng lực phối hợp, ứng phó với các tình huống khẩn cấp. Các cuộc diễn tập thường tập trung vào các nội dung như tìm kiếm cứu nạn, chống cướp biển, phòng chống ô nhiễm môi trường.

4.2. Trao Đổi Thông Tin Cảnh Sát Biển Chia Sẻ Kinh Nghiệm

Trao đổi thông tin là một hoạt động quan trọng, giúp Cảnh sát biển các nước chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao hiểu biết về tình hình an ninh biển. Thông tin được trao đổi bao gồm thông tin về tội phạm, buôn lậu, ô nhiễm môi trường, các mối đe dọa an ninh khác.

4.3. Tuần Tra Chung Cảnh Sát Biển Bảo Vệ An Ninh Khu Vực

Tuần tra chung là một biện pháp hiệu quả để bảo vệ an ninh khu vực, ngăn chặn các hoạt động phi pháp trên biển. Cảnh sát biển các nước phối hợp tuần tra trên các vùng biển chung, kiểm soát tàu thuyền, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.

V. Kiến Nghị Hoàn Thiện Nâng Cao Năng Lực Cảnh Sát Biển

Để nâng cao năng lực hoạt động của Cảnh sát biển, cần có các giải pháp đồng bộ về pháp luật, tổ chức, trang bị, đào tạo. Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, tăng cường đầu tư trang thiết bị hiện đại, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ chiến sĩ. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế của Cảnh sát biển Việt Nam trên trường quốc tế.

5.1. Hoàn Thiện Pháp Luật Tạo Cơ Sở Pháp Lý Vững Chắc

Hệ thống pháp luật về biển cần được hoàn thiện, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật còn thiếu, chồng chéo, bất cập. Đồng thời, cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển cho người dân.

5.2. Đầu Tư Trang Thiết Bị Nâng Cao Khả Năng Tác Chiến

Cảnh sát biển cần được trang bị các phương tiện, trang thiết bị hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cần đầu tư tàu thuyền, máy bay, radar, hệ thống thông tin liên lạc, các trang thiết bị chuyên dụng khác. Đồng thời, cần đảm bảo công tác bảo trì, bảo dưỡng trang thiết bị.

5.3. Nâng Cao Trình Độ Đào Tạo Cán Bộ Chiến Sĩ

Cán bộ chiến sĩ Cảnh sát biển cần được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học. Cần chú trọng đào tạo về pháp luật, nghiệp vụ tuần tra, kiểm soát, tìm kiếm cứu nạn, đối ngoại. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng.

VI. Tương Lai Kiểm Tra Kiểm Soát Cảnh Sát Biển Việt Nam

Trong bối cảnh tình hình an ninh biển ngày càng phức tạp, vai trò của Cảnh sát biển Việt Nam ngày càng quan trọng. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Cảnh sát biển cần tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực, tăng cường hợp tác quốc tế. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự ủng hộ của nhân dân, Cảnh sát biển Việt Nam sẽ ngày càng lớn mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển.

6.1. Ứng Dụng Công Nghệ Nâng Cao Hiệu Quả Giám Sát

Việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động giám sát, quản lý biển là xu hướng tất yếu. Cảnh sát biển cần tăng cường ứng dụng các công nghệ như vệ tinh, radar, hệ thống thông tin địa lý (GIS) để nâng cao hiệu quả giám sát, phát hiện sớm các hành vi vi phạm.

6.2. Phối Hợp Lực Lượng Tăng Cường Sức Mạnh Tổng Hợp

Sự phối hợp chặt chẽ giữa Cảnh sát biển với các lực lượng khác như Hải quân, Biên phòng, Kiểm ngư là yếu tố quan trọng để bảo vệ an ninh biển. Cần xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong hoạt động.

6.3. Xây Dựng Lực Lượng Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ Mới

Cảnh sát biển cần tiếp tục được xây dựng, củng cố về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cần tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng cán bộ chiến sĩ, trang bị phương tiện hiện đại, xây dựng cơ sở vật chất khang trang.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ kiểm tra kiểm soát theo thẩm quyền cảnh sát biển việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Quyền và Nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc tế đối với hoạt động tuần tra, kiểm soát 1.Công ước của liên hợp quốc về luật biển năm 1982 1. Nội thuỷ Vùng nƣớc phía trong đƣờng cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải là nội thuỷ, (điều 8 Công ƣớc luật biển, 1982) là vùng nƣớc tiếp liền với lãnh thổ, một bộ phận của lãnh thổ quốc gia ven biển đƣợc pháp luật và tập quán quốc tế thừa nhận nó có chế độ pháp lý nhƣ trên đất liền. Điều 2 của Công ƣớc luật biển 1982 quy định: “ chủ quyền quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thuỷ của mình, .” điều này có nghĩa Công ƣớc đã thừa nhận chủ quyền đƣơng nhiên của quốc gia ven biển trong nội thuỷ. Chủ quyền quốc gia ven biển đƣợc thể hiện trong thiết lập hệ thống chính trị, chế độ kinh tế hay hệ thống pháp luật.

trong đó quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, triệt để và đầy đủ, cả về quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Mọi hành vi vi phạm trên các lĩnh vực về an ninh chủ quyền, thuế khoá, hải quan, khai thác tài nguyên thiên nhiên, .đều phải chịu trách nhiệm hành chính, hình sự hay dân sự, do các cơ quan bảo vệ pháp luật của quốc gia ven biển thực hiện. Theo khoản 2 điều 25 Công ƣớc luật biển 1982. “đối với tàu thuyền đi vào vùng nội thuỷ hay vào một công trình cảng ở bên ngoài vùng nội thuỷ đó, quốc gia ven biển cũng có quyền thi hành những biện pháp cần thiết để ngăn ngừa mọi sự vi phạm đối với các điều kiện mà tàu thuyền này buộc phải tuân theo để được vào nội thuỷ hay vào công trình cảng nói trên.” Nhƣ vậy, các lực lƣợng kiểm soát của quốc gia ven biển có thể tiến hành kiểm tra bất cứ con tàu nào, khi phát hiện các dấu hiệu vi phạm pháp luật của 3 z quốc gia đó và áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa mọi vi phạm có thể xẩy ra.

Ngoại trừ quyền đi qua vô hại đƣợc thực hiện trƣớc khi vùng nƣớc nội thuỷ của quốc gia ven biển đƣợc thiết lập. Theo điều 8 của Công ƣớc luật biển, 1982 “ Khi một đường cơ sở thẳng được vạch ra theo đúng phương pháp được nói tại điều 7 gộp vào nội thuỷ, các vùng nước trước đó chưa được coi là nội thuỷ, thì quyền đi qua không gây hại nói trong Công ước vẫn được áp dụng ở các vùng nước đó. “ Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt giữa chủ quyền trong nội thuỷ và chủ quyền trên lãnh thổ đất liền, vì quốc gia ven biển thực hiện quyền lực của mình trên nội thuỷ không phải đối với cá nhân mà là đối với tàu thuyền - Cộng đồng có tổ chức và đáp ứng những quy tắc riêng biệt. Sự khác biệt giữa chủ quyền trong nội thuỷ và chủ quyền trên lãnh thổ đất liền ở đây xuất phát từ các quy định của pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế thừa nhận quốc gia ven biển có chủ quyền trong nội thuỷ mà không có một quy định cụ thể nào về quyền lực và giới hạn quyền lực của quốc gia ven biển.

Điều này cũng có thể dẫn tới hình thành các quy tắc riêng biệt, do pháp luật của mỗi quốc gia có quy tắc ứng xử đối với từng loại phƣơng tiện, tàu thuyền khác nhau trong điều kiện mỗi một con tàu đều có mối liên hệ dàng buộc nhất định với Nhà nƣớc mà nó mang cờ. Ví dụ: Hệ thống pháp luật Pháp, thẩm quyền tài phán hình sự trƣớc tiên thuộc quốc gia tàu mang cờ; hệ thống pháp luật Anh – Quốc gia ven biển từ bỏ thẩm quyền tài phán hình sự đối với tàu thuyền nƣớc ngoài [1, tr 40]. Điều này lƣu ý các quốc gia, khi đƣa ra các quy định và hoạt động kiểm soát của tàu thuyền nƣớc ngoài cần chú ý đến quyền đi qua không gây hại đã tồn tại trƣớc khi có đƣờng cơ sở; xây dựng quy tắc ứng xử riêng biệt đối với tàu buôn, tàu chiến hay tàu Nhà nƣớc dùng vào mục đích công vụ.2/ Lãnh hải Lãnh hải là vùng nƣớc nằm phía ngoài đƣờng cơ sở, ranh giới ngoài của lãnh hải hợp với đƣờng cơ sở tạo thành một vùng biển rộng nhất là mƣời hai hải lý. Tại đây quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ.

Theo quy định tại điều 2 Công ƣớc luật biển, 1982 quy định: “ Chủ quyền quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thuỷ của mình và trong trường hợp một quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo, đến một vùng nước tiếp liền gọi là lãnh hải. “ Nhƣ vậy, trong lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền kiểm soát nhƣ trong nội thuỷ và đất liền. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp quyền kiểm soát của quốc gia ven biển bị hạn chế và chi phối bởi các quy định của Công ƣớc.: “Chủ quyền quốc gia trong vùng lãnh hải được thực hiện trong những điều kiện do các quy định của Công ước này quy định và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế trù định. Điều này cho thấy, lãnh hải hoàn toàn không phải là lãnh thổ của quốc gia ven biển theo nghĩa tuyệt đối.

Quyền lực của quốc gia ven biển đƣợc thực hiện trong các trƣờng hợp sau: 1. Kiểm soát việc đi qua vô hại trong lãnh hải của tàu thuyền nước ngoài * Đi qua Theo quy định của điều 18, Công ƣớc luật biển, 1982 nghĩa của Nghĩa của đi qua: 1. Là đi ở trong lãnh hải, nhằm mục đích: a/ Đi ngang qua nhƣng không đậu trong một vũng tàu một công trình cảng ở bên ngoài nội thủy; hoặc b/ Đi vào hoặc rời khỏi nội thuỷ, hoặc đậu lại hay rời khỏi một vũng tàu hay một công trình cảng trong nội thuỷ. 2/ Việc đi qua phải liên tục và nhanh chóng, tuy nhiên, việc đi qua bao gồm 5 z cảc việc dừng lại và thả neo, nhƣng chỉ trong các trƣờng hợp gặp phải những sự cố thông thƣờng về hàng hải hoặc vì một trƣờng hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp ngƣời, tàu thuyền hay phƣơng tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn.

* Đi qua không gây hại: Điều 19 Công ƣớc, 1982 quy định “việc đi qua không gây hại, chừng nào nó không làm phƣơng hại đến hoà bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển”. a) Kiểm soát các hành vi vi phạm của tàu thuyền nước ngoài gây hại trong lãnh hải Khoản 2 điều 19 Công ƣớc cho phép quốc gia ven biển có thể kiểm tra và áp dụng các biện pháp trừng trị theo quy định của pháp luật mình đã định ra phù hợp với Công ƣớc và tập quán quốc tế, khi tàu thuyền nƣớc ngoài thực hiện quyền đi qua không gây hại có một trong những hành vi vi phạm đến hoà bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển sau: Đe doạ hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính thị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã đƣợc nêu trong Hiến chƣơng Liên hợp quốc; Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào; Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển; Tuyên truyền nhằm làm phƣơng hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển; Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phƣơng tiện bay; Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phƣơng tiện quân sự; Xếp hoặc dỡ hàng hoá, tiền bạc hay đƣa ngƣời lên xuống tàu trái với quy định về hải quan, thuế, y tế hoặc nhập cƣ của quốc gia ven biển; 6 z Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, Đánh bắt hải sản; Nghiên cứu hay đo đạc; Làm rối loạn mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển; Mọi hoạt động khác không liên quan trực tiếp đến việc đi qua không gây hại. Để bảo vệ chủ quyền, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn và việc thực thi pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, quốc gia ven biển có các quyền kiểm soát cần thiết đối với mọi hoạt động của tàu thuyền đi qua vô hại. Quyền bảo vệ của quốc gia ven biển: Điều 25 Công ƣớc luật biển 1982 “ Quốc gia ven biển có thể thi hành các biện pháp cần thiết trong lãnh hải của mình để ngăn cản mọi việc đi qua có gây hại.” Mọi biện pháp ở đây có thể là việc áp dụng các chế tài hình sự, hành chính hay dân sự, hoặc các biện pháp khác phù hợp với pháp luật quốc tế của quốc gia ven biển buộc tàu thuyền nƣớc ngoài phải gánh chịu khi đi qua có gây hại.

Tuy nhiên, mức độ của các biện pháp đƣợc áp dụng cho các hành vi đi qua có gây hại nhƣ thế nào ? Công ƣớc không có quy định rõ ràng, cụ thể. Các biện pháp này gần nhƣ phụ thuộc pháp luật của mỗi quốc gia. Điều này cần phải có sự thoả thuận chung trong phạm vi khu vực hay quốc tế. Mọi biện pháp mà quốc gia có thể thi hành để trừng trị việc đi qua có gây hại có bao hàm việc sử dụng vũ lực theo cơ chế phòng vệ chính đáng hay không ? cơ chế phòng vệ chính đáng có thể hiểu rằng: Khi có một hành vi sử dụng vũ lực của tàu thuyền nƣớc ngoài vi phạm pháp luật quốc gia và các quy định của luật quốc tế thì các lực lƣợng kiểm soát trên biển của quốc gia ven biển đƣợc phép sử dụng một hành vi dùng vũ lực tƣơng ứng để phòng vệ.

Hơn nữa, các lực lƣợng kiểm soát có đƣợc áp dụng các biện pháp quân sự để trừng trị một con tàu vi phạm pháp luật quốc gia ven biển đó đặt ra không? đối với trƣờng hợp nào?. 7 z Để thực hiện quyền này, trƣớc hết quốc gia ven biển thiết lập các lực lƣợng kiểm soát đủ mạnh để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia phòng và chống các hành vi xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ, xâm phạm chế độ chính trị, an ninh quốc phòng. và bảo đảm thực thi pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế trên biển. Ví dụ: Các biện pháp đƣợc Công ƣớc trù định, cho phép các quốc gia ven biển áp dụng các biện pháp dẫn đến hạn chế quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nƣớc ngoài tại điều 21, điều 22 của Công ƣớc, .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kiểm Tra và Kiểm Soát Theo Thẩm Quyền Cảnh Sát Biển Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và chức năng của lực lượng cảnh sát biển trong việc duy trì an ninh và trật tự trên biển. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm tra và kiểm soát theo thẩm quyền, giúp đảm bảo an toàn hàng hải và bảo vệ tài nguyên biển. Độc giả sẽ nhận thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về quy trình và phương pháp hoạt động của cảnh sát biển, từ đó nâng cao nhận thức về an ninh biển và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc bảo vệ môi trường biển.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học tổ chức và hoạt động của cảnh sát biển ở Việt Nam hiện nay, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết hơn về tổ chức và hoạt động của lực lượng này trong bối cảnh hiện tại. Những thông tin bổ sung này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của cảnh sát biển trong việc bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia.