Chương 1: Những vấn đề cơ bản về Kiểm toán Nhà nước và pháp luật Kiểm toán Nhà nước. Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật KTNN đối với một số doanh nghiệp nhà nước. Chương 3: Một số kiến nghị về pháp luật kiểm toán nhà nước từ thực tiễn kiểm toán áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC VÀ PHÁP LUẬT KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC 1.
Khái niệm kiểm toán và hoạt động kiểm toán nhà nƣớc 1.1 Khái niệm và đặc điểm kiểm toán nhà nước 1.1 Khái niệm Hoạt động kiểm toán xuất phát từ yêu cầu sử dụng hợp lệ, hợp pháp, hợp lý các nguồn tài chính nhà nước.Mục tiêu của công tác này là sử dụng xác thực và có hiệu quả nguồn kinh phí công, phấn đấu đạt được sự quản lý kinh tế chặt chẽ, tính hợp lệ của công tác quản lý tài chính và việc thông tin cho các cơ quan nhà nước cũng như công luận. Kiểm toán là một hoạt động không thể thiếu được nhằm duy trì hoạt động kinh tế có hiệu quả. Về phân loại kiểm toán, có nhiều cách phân loại khác nhau theo từng góc độ, tuy nhiên, có hai cách phân loại chủ yếu sau: Phân loại theo chủ thể kiểm toán có: Kiểm toán Nhà nước; Kiểm toán nội bộ; Kiểm toán độc lập. Phân loại theo chức năng có: Kiểm toán hoạt động; Kiểm toán tuân thủ; Kiểm toán báo cáo tài chính.
Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập (Theo Giáo trình Kiểm toán tài chính, Trang 3, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, NXB Thống Kê, năm 2007). Như vậy, các “chuyên gia độc lập và có thẩm quyền” là những người phải có đủ năng lực và độc lập để có thể thực hiện cuộc kiểm toán đảm bảo chất lượng; 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Các thông tin” được kiểm tra có thể là báo cáo tài chính, tờ khai nộp thuế, quyêt toán ngân sách…; “bằng chứng kiểm toán” là các thông tin để chứng minh cho ý kiến nhận xét của kiểm toán viên như tài liệu kế toán, kết quả kiểm kê…; “chuẩn mực đã được thiết lập” là cơ sở để đánh giá các thông tin được kiểm tra. Hoạt động KTNN do cơ quan KTNN tiến hành ở mỗi quốc gia có những tên gọi khác nhau. Ví dụ: Tòa Kiểm toán Cộng hòa Pháp, Cơ quan Tổng Kế toán Hoa Kỳ, Cục Kiểm toán Liên bang Nga, Ủy ban Kiểm toán và Kiểm soát Ấn Độ; Ủy ban Kiểm toán Nhật Bản,v.
Phần lớn các khu cực trên thế giới đều thành lập Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao của khu vực; đồng thời các quốc gia cũng gia nhập Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (International Organization of Supreme Audit Institutions – INTOSAI). Ở Việt nam, hoạt động KTNN được tiến hành bởi cơ quan KTNN thành lập theo Nghị định số 70 ngày 11/7/1994 của Chính phủ. Năm 1996, KTNN Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao – INTOSAI. Năm 1997, KTNN Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao Châu Á (Asian Organiztion of Supreme Audit Institutions – ASOSAI).
Năm 2005, Luật KTNN ra đời quy định KTNN là cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập để giúp Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội trong việc xem xét, quyết định NSNN; trong việc thẩm tra dự toán NSNN, phương án phân bổ NSNN, dự toán các công trình quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định; trong việc thẩm tra và trình Quốc hội phê chuẩn Tổng quyết toán NSNN, kiểm toán và giám sát việc chấp hành NSNN. Điều 4 Luật KTNN quy định "Hoạt động kiểm toán của KTNN là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước ". Như vậy trước hết, hoạt động kiểm toán của KTNN là hoạt động của cơ quan nhà nước, đối tượng của cơ quan này là các hoạt động quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản của nhà nước. Tất cả các tổ chức, đơn vị có quản lý, sử 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước đều phải chịu sự kiểm toán của cơ quan KTNN.
Quy định như vậy nhằm đảm bảo kiểm soát việc quản lý, sử dụng các nguồn lực công, tránh lãng phí, thất thoát, tham nhũng.2 Phân biệt khái niệm KTNN với kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ: Kiểm toán độc lập theo Điều 2, Nghị định 105/2004/NĐ - CP ngày 30 tháng 3 năm 2004 về kiểm toán độc lập quy định: "Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này ". KTNN là cơ quan công quyền thực thi theo quyền lực nhà nước không cần có sự chấp thuận hay yêu cầu của đơn vị được kiểm toán. KTNN thực hiện kiểm toán sẽ theo chương trình kế hoạch được Tổng KTNN quyết định, nội dung, phạm vi kiểm toán cũng do Tổng KTNN quyết định. Còn kiểm toán độc lập (hay các doanh nghiệp kiểm toán) sẽ thực hiện theo các hợp động ký kết giữa doanh nghiệp kiểm toán và đơn vị được kiểm toán.
Việc kiểm toán nội dung nào, phạm vi đến đâu sẽ do hai bên thống nhất và ghi trong hợp đồng ký kết. “Kiểm toán nội bộ là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó. Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh giá và cải tiến một cách hệ thống và chuẩn tắc tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro. Quyết định 832/TC/QĐ/TCKT ngày 28-10-1997 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về hoạt động kiểm toán nội bộ tại các DNNN ở Việt Nam.
Đây là văn bản pháp luật duy nhất quy định chức năng của kiểm toán nội bộ là kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Kiểm toán nội bộ là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu của hệ thống quản lý doanh nghiệp, báo cáo kiểm toán của kiểm toán nội bộ giúp cho nhà quản trị của doanh nghiệp ra những quyết định kinh doanh của mình và báo cáo kiểm toán nội bộ chỉ có giá trị pháp lý trong nội bộ doanh nghiệp. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Hoạt động kiểm toán 1.1 Hoạt động kiểm toán, ý nghĩa của hoạt động kiểm toán Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là việc kiể m tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn , trung thực của báo cáo tài chính ; viê ̣c tuân thủ pháp luâ ̣t ; tính kinh tế , hiê ̣u lực và hiê ̣u quả trong quản lý , sử du ̣ng ngân sách , tiề n và tài sản nhà nước do các kiểm toán viên nhà nước tiến hành. Luật KTNN, Chương IV gồm bảy mục với 29 điều quy định chi tiết và cụ thể nội dung liên quan hoạt động kiểm toán gồm: Quyết định kiểm toán; Loại hình kiểm toán và nội dung của từng loại hình kiểm toán; Thời hạn kiểm toán, địa điểm kiểm toán; Đoàn kiểm toán, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng kiểm toán và các thành viên khác của đoàn kiểm toán; Quy trình kiểm toán; Công khai kết quả kiểm toán, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán và hồ sơ kiểm toán.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định việc kiểm toán đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Hoạt động kiểm toán có ý nghĩa nhằm đánh giá hiệu quả việc sử dụng hợp lý, hợp lệ các nguồn tài chính của Nhà nước. Kết quả này góp phần làm lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia trong việc hoạch định chính sách tài chính.3 Tổ chức c¬ quan 1.1 Vị trí, vai trò của KTNN Điều 13, Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2005 quy định về địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước: “Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lnhx vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Khoản 1 điều 7: KTNN hoạt động theo nguyên tắc “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, trung thực, khách quan.
Đây là nguyên tắc cơ bản, quan trọng xuyên suốt đối với hoạt động kiểm toán của KTNN, gắn với bản chất của KTNN, chi phối toàn bộ hoạt động kiểm toán. Sự độc lập thông qua việc xác nhận địa vị pháp lý của cơ quan này trong bộ máy nhà nước, độc lập về tài chính, độc lập với các quan hệ kinh doanh mật thiết với DNNN sử dụng dịch vụ bảo đảm và các quan hệ cá nhân và gia đình, với sự can thiệp của các cơ quan khác. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com KTNN đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện các trường hợp sai phạm, yếu kém, các sơ hở trong quản lý tài chính nhà nước, không chỉ trong việc giúp các doanh nghiệp hiểu rõ thực trạng công tác quản lý tài chính, tuân thủ và chấp hành pháp luật, kỷ luật tài chính v. mà còn qua đó cung cấp những nguồn thông tin, dữ liệu đầy đủ, đáng tin cậy cho các cơ quan chức năng từ lập dự toán; thảo luận và quyết định ngân sách (quá trình kiểm toán trước); kiểm tra, thanh tra quyết toán NSNN.
Cơ quan KTNN xác nhận, đánh giá và nhận xét các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo kế toán đã được kiểm toán và chịu trách nhiệm về các nội dung đó. Do nhận thức chưa đầy đủ về vị trí vai trò của KTNN, nhiều DNNN vẫn coi như là một công cụ kiểm soát riêng của trung ương và coi mình như đối tượng bị kiểm tra, kiểm soát. Do nhận thức như vậy nên hầu như các DNNN luôn ở trạng thái “bị động” trong mối quan hệ với KTNN.