phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề 5 tài đƣợc chia làm các chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thuế TNCN và kiểm soát thuế TNCN. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát thuế TNCN tại CCT khu vực Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm tăng cƣờng kiểm soát thuế TNCN tại CCT khu vực Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vấn đề quản lý thu thuế TNCN nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu đã đề ra khi ban hành Luật đƣợc khá nhiều ngƣời quan tâm và thực tế đã có một số công trình nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện chính sách thuế TNCN.
Những năm trở lại đây có khá nhiều đề tài nghiên cứu về thuế TNCN, đặc biệt là đề tài về hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN khi mà các hành vi gian lận thuế diễn ra ngày một tinh vi dẫn đến thất thu cho ngân sách nhà nƣớc. Để có thông tin cần thiết cho đề tài nghiên cứu, tác giả đã thu thập, tìm hiểu và tham khảo nội dung một số bài báo khoa học, luận văn thạc sỹ đã đƣợc công nhận có liên quan với đề tài lựa chọn làm nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn, cụ thể nhƣ sau: - Nghiên cứu của Bùi Công Phƣơng (2011) ) “Hoạt động kiểm soát thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công tại các tổ chức chi trả do Cục Thuế thành phố Đà Nẵng thực hiện” đã dựa trên cơ sở lý luận về kiểm soát quản lý, kiểm soát thuế TNCN, luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm soát thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công tại các tổ chức chi trả do Cục Thuế thành phố Đà Nẵng thực hiện, từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kiểm soát thuế TNCN, tăng cƣờng chống thất thu thuế TNCN tại thành phố Đà Nẵng. Luận văn làm rõ ý nghĩa của công tác kiểm soát thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng. Tuy nhiên, vì bài luận văn của tác giả nghiên cứu khá lâu, nhiều chính sách thuế 6 mới cập nhật để phù hợp với tình hình thực tế cũng nhƣ việc nghiên cứu hoạt động kiểm soát thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công tại các tổ chức chi trả do Cục Thuế thành phố Đà Nẵng thực hiện thì chỉ là một phần nhỏ trong sắc thuế TNCN mà chúng ta đang quan tâm nên bài nghiên cứu chƣa đáp ứng đƣợc tính cấp thiết và thực tiễn hiện nay.
- Nghiên cứu của Nguyễn Đình Trọng (2012) “Tăng cường công tác kiểm soát trong quản lý thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Đăk Lăk” đã hệ thống hóa đƣợc lý luận cơ bản về kiểm soát trong quản lý thuế TNCN; xây dựng các chỉ tiêu đánh giá kết quả công tác kiểm soát thuế TNCN; đánh giá đƣợc thực trạng kiểm soát trong quản lý thuế TNCN và thông qua những số liệu, báo cáo về tình hình kiểm soát hoạt động quản lý thuế TNCN đã đề xuất những giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác kiểm soát trong quản lý thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Đăk Lăk. Từ nghiên cứu trên, tác giả luận văn đã chỉ ra đƣợc những hạn chế trong việc việc đăng ký thuế, trong quy trình quản lý thuế TNCN và công tác kiểm tra nội bộ của Cục Thuế từ đó định hƣớng những giải pháp khắc phục nhƣ hoàn thiện một số điểm trong quy trình quản lý thuế TNCN, hoàn thiện quy trình thanh tra, kiểm tra thuế TNCN, hoàn thiện công tác tuyên truyền về thuế, hoàn thiện kiểm soát thuế đối với những khoản thu nhập của cá nhân và giảm trừ gia cảnh cho NNT. Bài nghiên cứu tuy đã chỉ ra đƣợc những khe hở của để NNT có thể thực hiện hành vi gian lận và những phƣơng án hoàn thiện việc kiểm soát trong quản lý thuế TNCN nhƣng nó chủ yếu tập trung vào các khâu theo quy trình nghiệp vụ cơ quan thuế và ít tập trung đi sâu vào vấn đề kiểm soát trong việc thu thuế TNCN. - Nghiên cứu của Nguyễn Thành Phúc (2013) “Quản lý thuế TNCN từ tiền lương, tiền công” đã tiếp cận nghiên cứu dƣới góc độ kinh tế, đã có những đóng góp: chỉ ra thực tế ở Việt Nam hiện chƣa có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát các khoản giảm trừ, đặc biệt là khoản giảm trừ gia cảnh của 7 NNT.
Tác giả đã đề xuất giải pháp kiểm soát thu nhập chịu thuế nhƣ: Các cục, CCT cần phối hợp chặt chẽ với các đội thuế liên phƣờng, xã để theo dõi sát thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công, nắm chắc nguồn thu, các khoản giảm trừ của cá nhân; tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản lý thông tin cá nhân NNT và hồ sơ giảm trừ gia cảnh cho ngƣời phụ thuộc; sử dụng đồng bộ, liên thông trên toàn quốc; kết hợp với tăng cƣờng rà soát, đối chiếu để ngăn chặn gian lận; đề xuất ban hành các văn bản cụ thể hóa trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân chi trả tiền lƣơng, tiền công trong việc kê khai thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công của NNT; kiểm soát, quản lý và trách nhiệm xác minh các trƣờng hợp NNT đƣợc giảm trừ gia cảnh. Tuy nhiên do các nghiên cứu trên đƣợc thực hiện ở khuôn khổ một bài báo khoa học và đều tiếp cận nghiên cứu dƣới góc độ kinh tế đƣợc giới hạn trong phạm vi kiểm soát thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công cho nên cách giải quyết vấn đề và nội dung nghiên cứu còn sơ sài và chƣa chi tiết, chỉ tập trung vào một tiểu tiết trong sắc thuế TNCN và chƣa có tính cập nhật mới theo chính sách hiện hành. - Nghiên cứu của Võ Đăng Khoa (2015) “Kiểm soát nội bộ quy trình thu thuế tại Chi cục Thuế thị xã Dĩ An” đã tiếp cận nghiên cứu kiểm soát nội bộ quy trình thu thuế tại CCT thị xã Dĩ An với mục đích là đƣa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại CCT thị xã Dĩ An. Bài nghiên cứu đã chỉ ra đƣợc sự cần thiết phải có và áp dụng một hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả vì xuất phát từ việc đổi mới trong quy trình nghiệp vụ thuế theo cơ chế “ tự tính, tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm” của NNT cũng nhƣ ứng dụng khoa học công nghệ vào trong quá trình thu thuế ngày nay.
Ngoài ra, bài luận văn làm rõ nét về tầm quan trọng của việc kiểm soát quá trình thu thuế, đánh giá thực trạng và đề xuất các kiến nghị theo 5 thành phần kiểm soát nội bộ của COSO nhằm tăng cƣờng kiểm soát thu thuế tại CCT thị xã Dĩ An. Tuy nhiên, bài luận văn mới chỉ đi sâu nghiên 8 cứu việc kiểm soát thu thuế nói chung trên địa bàn và chƣa có đề cập đến việc kiểm soát thuế TNCN tại CCT. - Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hải (2016) “Tăng cường kiểm soát thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Đắk Lắk” bàn về việc tăng cƣờng kiểm soát thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Đắk Lắk. Qua bài nghiên cứu này, tác giả đã góp phần hệ thống hóa lý luận cơ ban về thuế TNCN, kiểm soát thuế TNCN, về thực trạng kiểm soát thuế TNCN tại Cục thuế cũng nhƣ đề xuất phƣơng hƣớng, giải pháp tăng cƣờng kiểm soát thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Đắk Lắk nhằm đảm bảo nguồn thu cho NSNN và góp phần thực hiện tốt mục tiêu, chính sách của tỉnh trong từng thời kỳ.
Đề tài đã phân tích đƣợc môi trƣờng kiểm soát, nhận diện đƣợc những rủi ro và hoạt động kiểm soát những rủi ro, sai phạm xảy ra trên địa bàn và có những giải pháp đối phó với những hạn chế, tồn tại trong quá trình thu thuế TNCN. Tuy nhiên, bài làm của tác giả thì chƣa đi vào nghiên cứu những thành phần khác của hệ thống kiểm soát nội bộ nhƣ thông tin và truyền thông hay hoạt động giám sát quy trình kiểm soát thuế TNCN. - Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Hà (2016) “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác thu thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa” bàn về việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác thu thuế thu nhập cá nhân tại CCT thành phố Biên Hòa. Bài luận văn đã chỉ ra đƣợc những lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ, phân tích thực trạng kiểm soát thu thuế TNCN tại CCT Biên Hòa, từ đó nhận ra những bất cập trong việc kiểm soát thu thuế TNCN và đề xuất những giải pháp hoàn thiện những tồn tại đó.
Bài nghiên cứu đƣợc định hƣớng theo 5 thành phần của kiểm soát nội bộ theo COSO là phân tích môi trƣờng kiểm soát, đánh giá rủi ro, thủ tục kiểm soát, thông tin và truyền thông, hoạt động giám sát. Qua nghiên cứu đề tài đƣa ra đƣợc những giải pháp áp dụng vào công tác kiểm 9 soát thu thuế TNCN nói chung cho cả nƣớc và đặc thù thành phố Biên hòa nói riêng, chủ yếu là các thủ tục cần thiết để NNT không lợi dụng đƣợc sự thông thoáng, kẽ hở của Luật thuế để làm giảm hoặc không phải nộp thuế làm gây thất thu cho NSNN. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu để hoàn thiện kiểm soát thuế TNCN nhƣ nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng và đạo đức; ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế và phục vụ cho NNT; tăng cƣờng hiệu quả công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT…Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ nhận diện rủi ro chung chung, không có tách biệt rủi ro theo từng bộ phận công việc hoặc theo từng khâu trong quy trình thu thuế TNCN để ngƣời đọc có thể hình dung rõ và chi tiết những lỗ hổng, khe hở mà NNT đang cố tình lợi dụng để trốn thuế TNCN, gây thất thu cho NSNN. Nhƣ vậy, kết hợp tất cả các nghiên cứu ở trên, thực tế cũng đã có những nghiên cứu liên quan đến đề tài nhƣng chỉ là những mảng nhỏ trong kiểm soát thu thuế TNCN hoặc những nghiên cứu chƣa đáp ứng đủ đƣợc yêu cầu của đề tài kiểm soát thuế TNCN nên việc tăng cƣờng kiểm soát thuế TNCN vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu toàn diện và sâu sắc.
Xuất phát từ những điểm trên cùng với sự nhận diện đƣợc những rủi ro sẽ đƣợc kiểm soát khác nhau ở từng địa bàn đặc thù khác nhau nên công tác kiểm soát thuế TNCN của từng cơ quan thuế sẽ có sự khác nhau.