Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1. Thủ tục hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính 1. Khái niệm thủ tục hành chính Theo Từ điển thuật ngữ hành chính: “TTHC là toàn bộ quy tắc, trình tự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, theo đó cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức, cá nhân phải tuân theo trong khi giải quyết các công việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau và giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội, công dân” [19, tr. Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về TTHC dựa trên nhiều gốc nhìn khác nhau.
Có quan niệm cho rằng “TTHC là trình tự, cách thức giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ của hành chính và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức và cá nhân, công dân” [29, tr. TTHC theo cuốn Đại Từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Văn hóa Thông tin năm 1998 là “cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của cơ quan nhà nước” [34, tr. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm TTHC, nhưng theo nghĩa chung nhất, có thể hiểu TTHC là “trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức” [8]. Khái niệm, vai trò của kiểm soát thủ tục hành chính 1.
Khái niệm kiểm soát thủ tục hành chính Quan niệm về kiểm soát: Từ “kiểm soát” trong từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ được hiểu là“xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định” [20, tr. 10 Luan van Kiểm soát là một hoạt động mang tính quyền lực. Tính quyền lực của kiểm soát thể hiện ở chỗ người thực hiện hoạt động kiểm soát có thể xem xét, đánh giá hành vi của một tổ chức, cá nhân là có phù hợp với quy định của cơ quan, đơn vị hay không và có quyền xử lý, kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm theo quy định. Nếu căn cứ vào đối tượng chịu sự kiểm soát thì kiểm soát được phân thành 2 nhóm: - Kiểm soát đối với các cá nhân, tổ chức xã hội.
- Kiểm soát đối với các cá nhân, tổ chức nhà nước, Căn cứ vào chủ thể, hoạt động kiểm soát được phân thành: - Kiểm soát của các cơ quan nhà nước. - Kiểm soát của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội [27, tr. Kiểm soát TTHC là một lĩnh vực mới, chưa có nhiều tác giả nghiên cứu, tìm hiểu. Vì vậy, khái niệm kiểm soát TTHC vẫn còn chưa được hiểu thống nhất.
Dưới góc độ nội dung của hoạt động này, kiểm soát TTHC được xem là “một quy trình bắt đầu từ việc đánh giá tác động các quy định TTHC trong quá trình dự thảo, do các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản QPPL thực hiện; gửi lấy ý kiến đơn vị kiểm soát TTHC; công khai, minh bạch TTHC sau khi ban hành; kiểm soát việc thực thi TTHC trong thực tiễn; và tiếp nhận, xử lý các PAKN của tổ chức, cá nhân về các quy định TTHC nhằm phát hiện và giải quyết những bất cập của các quy định hành chính, cũng như giám sát việc thực thi TTHC của đội ngũ CBCC” [23]. Kiểm soát TTHC còn được hiểu là việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về TTHC, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC, nhằm kịp thời phát hiện để loại bỏ hoặc chỉnh sửa TTHC không phù hợp, phức tạp, phiền hà; sửa 11 Luan van đổi, bổ sung TTHC không cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế; bảo đảm quy định TTHC đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng tuân thủ và cơ quan thực hiện TTHC [12]. Như kiểm soát TTHC được hiểu là “việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về TTHC, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC” [8]. Vai trò kiểm soát thủ tục hành chính Kiểm soát TTHC là một nội dung quan trọng trong cải cách TTHC.
Vì vậy, kiểm soát TTHC có vai trò quan trọng trong hoạt động của UBND cấp huyện như sau: Thứ nhất, kiểm soát TTHC góp phần nâng cao hiệu quả trong xây dựng pháp luật Hoạt động kiểm soát TTHC góp phần giúp cho cơ quan kiểm soát TTHC có thể kịp thời phát hiện, kiến nghị, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định pháp luật về TTHC còn vướng mắc, bất cập, chưa phù hợp với thực tế, thiếu hợp lý, hợp pháp trong các văn bản QPPL (như Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Quyết định của UBND cấp tỉnh) gây cản trở đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống nhân dân; làm tăng tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả của văn bản QPPL có quy định TTHC, từ đó góp phần nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật. Kiểm soát TTHC là cơ sở đảm bảo thực hiện đúng các quy định của pháp luật về TTHC. Việc kiểm soát TTHC để nâng cao chất lượng hệ thống các quy định hành chính không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC mà đòi hỏi sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống hành chính, từ cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có các quy định về TTHC tới các bộ phận trực tiếp thực hiện TTHC; từ CBCC đến tổ chức, cá nhân, các đối tượng tham gia vào TTHC. 12 Luan van Thứ hai, kiểm soát TTHC tạo điều kiện thuận lợi cho CBCC trong hoạt động thực thi công vụ Việc thực thi công vụ của CBCC gắn liền mật thiết với các TTHC.
Đối với các TTHC nội bộ thì việc kiểm soát TTHC góp phần làm đơn giản hóa TTHC. Giúp cho việc giao dịch giữa các cơ quan nhà nước được thuận lợi dễ dàng. Điều này làm cho việc phối hợp giữa các cơ quan trong thực thi công vụ được nâng lên. Trong khi đó đối với các TTHC bên ngoài đối với người dân và doanh nghiệp thì việc kiểm soát TTHC sẽ làm cho việc người dân tiếp cận và hiểu TTHC dễ dàng hơn.
Giúp người dân có niềm tin đối với cơ quan hành chính nhà nước đồng thời người dân hiểu đầy đủ về TTHC thì việc giải quyết công việc của CBCC cũng dễ dàng và nhanh chóng. Thứ ba, Kiểm soát TTHC góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình hội nhập quốc tế có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Hợp tác kinh tế quốc tế, thu hút dầu tư nước ngoài là con đường đưa Việt Nam rút ngắn sự tụt hậu so với các nước khác và có điều kiện để phát huy những lợi thế so sánh của mình.
Vì vậy, hệ thống pháp luật nói chung các quy định TTHC nói riêng là một điều kiện quan trọng để các nước làm căn cứ đầu tư vào Việt Nam và nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Thứ tư, kiểm soát TTHC góp phần tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp Huy động toàn xã hội tham gia vào quy trình kiểm soát TTHC để thực hiện tốt mục tiêu cải cách TTHC, bảo đảm nguyên tắc chỉ ban hành và duy trì các TTHC thực sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và có chi phí tuân thủ thấp nhất. Đây là một trong những nhiệm vụ của công tác kiểm soát TTHC. Chỉ khi nào các doanh nghiệp và người dân tham gia vào kiểm soát TTHC thì công tác này mới thật sự phát triển.
TTHC có vai trò hết sức quan trọng đối 13 Luan van với người dân và doanh nghiệp. Kiểm soát TTHC góp phần quan trọng vào việc đáp ứng các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp; góp phần làm đơn giản hóa TTHC, thực hiện công khai, minh bạch TTHC. Điều này tạo thuận lợi cho người dân trong các giao dịch với cơ quan nhà nước. Thời gian giải quyết TTHC sẽ được rút ngắn, góp phần tiết kiệm thời gian và các chi phí khác cho người dân.
Có thể nói rằng việc kiểm soát TTHC sẽ giúp cho công tác TTHC diễn ra thuận lợi hơn, đảm bảo nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện; phù hợp với mục tiêu quản lý hành chính nhà nước; bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện, tiết kiệm thời gian và chi phí của cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính nhà nước; đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả của các quy định về TTHC. Thực tế đã chỉ ra rằng, nếu không làm tốt công tác giám sát, kiểm soát TTHC thì các hoạt động nhằm cải cách TTHC đôi khi chỉ mang tính hình thức. Sẽ có nhiều thủ tục được “cải cách” trên giấy tờ, không có tính thực thi trong thực tế. Do đó việc kiểm soát có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với người dân mà còn đối với các cơ quan nhà nước, CBCC.
Việc kiểm soát chất lượng quy định TTHC ngay từ khâu soạn thảo cũng như việc kiểm soát quá trình thực hiện sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng văn bản QPPL và việc triển khai thực hiện TTHC nói riêng, thi hành pháp luật nói chung. Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính Hiện nay, việc thực hiện kiểm soát TTHC dựa trên những căn cứ pháp lý sau đây: Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2008 của Chính phủ quy định về tiếp nhận, xử lý PAKN của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính. Đây là cơ sở pháp lý cho việc tiếp nhận và xử lý PAKN của tổ chức, cá nhân về các quy định TTHC rườm rà, không phù hợp hoặc các hành 14 Luan van vi nhũng nhiễu, cửa quyền, quan liêu của CBCC, viên chức trực tiếp giải quyết TTHC cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đối với việc tiếp nhận và xử lý PAKN của cá nhân, tổ chức, công dân khi có nhu cầu. Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ quy định về kiểm soát TTHC quy định rõ các nguyên tắc, nội dung của hoạt động kiểm soát TTHC, các cơ quan thực hiện kiểm soát TTHC, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, CBCC trong thực hiện kiểm soát TTHC trên địa bàn cả nước.