Chương 1: Cơ sở lý thuyết về kiểm soát tăng trưởng tín dụng BĐS tại NHTM. Luận văn sẽ hệ thống hóa khung cơ sở lý thuyết về kiểm soát tăng trưởng tín dụng bất động sản tại NHTM; những dấu hiệu nhận biết tăng trưởng nóng tín dụng BĐS; những biện pháp được NHTM áp dụng để kiểm soát tăng trưởng tín dụng và bài học kinh nghiệm trong hoạt động kiểm soát tăng trưởng tín dụng BĐS tại một số NHTM khác. Chương 2: Thực trạng tăng trưởng nóng và kiểm soát tăng trưởng nóng tín dụng BĐS tại Vietcombank - CN Biên Hòa. Sau khi thực hiện các phương pháp phân tích, so sánh, khảo sát ý kiến của cán bộ nhân viên, các kết quả phân tích sẽ được trình bày và thảo luận nhằm nêu rõ thực trạng tăng trưởng nóng tín dụng BĐS và kiểm soát tăng trưởng nóng tín dụng BĐS của Vietcombank - CN Biên Hòa.
Chương 3: Giải pháp kiểm soát tăng trưởng nóng tín dụng BĐS tại Vietcombank - CN Biên Hòa. Sau khi tổng hợp kết quả nghiên cứu và thảo luận, tác giả đề xuất giải pháp và một số kiến nghị nhằm kiểm soát tăng trưởng nóng tín dụng BĐS tại Vietcombank - CN Biên Hòa. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT TĂNG TRƯỞNG NÓNG TÍN DỤNG BẤT ĐỘNG SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý thuyết về kiểm soát tăng trưởng nóng tín dụng bất động sản tại ngân hàng thương mại 1.
Lý luận chung về thị trường bất động sản Chúng ta có thể hiểu thị trường bất động sản một cách tổng quát như sau: Thị trường bất động sản là hệ thống các quan hệ kinh tế trong các ngành tạo lập bất động sản, các thể chế hỗ trợ thị trường và toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc giao dịch bất động sản (Bourne và cộng sự, 1978). Bất động sản có những đặc trưng riêng biệt như sau: Tính lâu bền: Một tòa nhà có thể tồn tại trong nhiều thập kỷ hoặc thậm chí nhiều thế kỷ, và phần đất bên dưới nó thực tế là gần như không thể phá hủy. Do đó, BĐS là một sản phẩm đặc biệt với những đặc trưng là không bị hao mòn hoặc mất đi giá trị theo thời gian. Tính không đồng nhất: Mỗi đơn vị bất động sản là duy nhất về vị trí, tọa độ và cố định theo thời gian.
Điều này làm cho việc định giá trở nên khó khăn, tăng chi phí tìm kiếm, tạo ra sự bất cân xứng thông tin và hạn chế đáng kể khả năng thay thế (Muth, 1960). Chi phí giao dịch cao: Mua hoặc chuyển đến ở trong nhà tốn kém hơn nhiều so với hầu hết các loại giao dịch. Các chi phí bao gồm chi phí tìm kiếm, phí bất động sản, chi phí di chuyển, phí pháp lý, thuế chuyển nhượng đất và phí đăng ký chứng thư (Olsen, 1969). Sự trì hoãn kéo dài: Quá trình điều chỉnh thị trường có thể bị chậm trễ về thời gian do thời gian cần thiết để cung cấp vốn, thiết kế và xây dựng nguồn cung mới cũng như do tốc độ thay đổi của cầu tương đối chậm.
Bởi vì những độ trễ này, có khả năng mất cân bằng trong ngắn hạn là rất lớn (Muth, 1960). Tín dụng bất động sản tại ngân hàng thương mại Theo Wayne và cộng sự (2002), tín dụng BĐS là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng (thể nhân hoặc pháp nhân) liên quan đến lĩnh vực BĐS. Bên 2 cạnh đó, tín dụng BĐS là loại hình tín dụng của NHTM trong đó ngân hàng cấp cho bên vay một số vốn để thực hiện các mục đích liên quan đến BĐS bao gồm: mua nhà; mua đất; xây dựng nhà ở, nhà xưởng, văn phòng, cao ốc cho thuê; sửa chữa nhà ở; đầu tư kinh doanh BĐS, xây dựng nhà để bán. Khi đến hạn bên vay phải hoàn trả vốn gốc và tiền lãi cho bên cho vay là ngân hàng.
Như vậy, tín dụng ngân hàng đối với lĩnh vực BĐS bao gồm cả hai hình thức vừa đáp ứng nhu cầu đầu tư kinh doanh BĐS của nhà đầu tư, vừa đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân. Trong thực tế, tín dụng BĐS bao gồm đa dạng các nghiệp vụ ngân hàng bao gồm cho vay BĐS, phát hành bảo lãnh cho người mua nhà và các nghiệp vụ bảo lãnh khác. Trong phạm vi bài nghiên cứu này thì tín dụng BĐS được hiểu là các hoạt động cho vay BĐS cho khách hàng tổ chức và cá nhân vì đây là hoạt động chính, chiếm phần lớn trong nghiệp vụ tín dụng liên quan đến BĐS. Xuất phát từ vai trò quan trọng của thị trường BĐS đối với nền kinh tế, đối với xã hội mà việc cho vay hay cấp vốn ở mức vừa phải để kích thích thị trường BĐS phát triển là điều cần thiết, trong đó điều tiết vốn thông qua kênh tín dụng ngân hàng với các sản phẩm cho vay BĐS được xem là hữu hiệu và khá phổ biến hiện nay ở một số nước.
Theo Blasko và cộng sự (2006), căn cứ vào các sản phẩm dịch vụ hiện có trên thị trường BĐS hiện nay thì hoạt động cho vay BĐS có thể được phân loại theo một số loại hình chính như sau: Cho vay kinh doanh BĐS. Loại hình này không nhằm vào việc kinh doanh mang tính chất đầu cơ ngắn hạn của các cá nhân mà chủ yếu hỗ trợ vốn cho các tổ chức xây dựng văn phòng, cao ốc cho thuê; xây dựng căn hộ, nhà ở để bán; xây dựng các trung tâm thương mại. Cho vay BĐS phục vụ sản xuất kinh doanh. Đây là loại hình cho vay BĐS phục vụ cho các doanh nghiệp có điều kiện về vốn đế xây dựng mở rộng nhà xưởng sản xuất, xây dựng nhà xưởng mới để ổn định sản xuất thay vì đi thuê.
Cho vay BĐS phục vụ nhu cầu nhà ở. Đây là một loại hình cho vay BĐS phổ biến và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của đa số người dân trong việc mua nhà, xây nhà, sửa nhà. Tăng trưởng tín dụng bất động sản tại ngân hàng thương mại Theo Daniel và cộng sự (2010) đo lường tăng trưởng tín dụng bằng phần trăm thay đổi trong số dư nợ cho vay khách hàng tại năm t so với năm t - 1. Hằng năm, NHNN Việt Nam sẽ căn cứ vào các mục tiêu tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô; từ đó NHNN sẽ thiết lập mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho toàn bộ hệ thống các NHTM.
Cụ thể, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho toàn ngành ngân hàng là 14% trong năm 20203. Theo đó, tăng trưởng tín dụng BĐS tại NHTM được hiểu đơn giản là phần trăm thay đổi số dư nợ cho vay khách hàng trong lĩnh vực BĐS so với năm liền kề trước đó. Vì tín dụng BĐS cũng là một bộ phận trong cơ cấu tín dụng của NHTM nên tăng trưởng tín dụng BĐS cũng phải được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo tuân thủ hạn mức tăng trưởng tín dụng theo quy định của NHNN. Vai trò của tăng trưởng tín dụng bất động sản tại ngân hàng thương mại Tín dụng NHTM là nguồn cung ứng vốn, tăng tính thanh khoản cho thị trường BĐS.
Giá trị BĐS thường rất lớn và vượt qua khả năng tài chính của hầu hết các chủ thể trong giao dịch BĐS bao gồm cả bên mua và bên bán. Do đó, tín dụng BĐS đóng vai trò là bên trung gian cung ứng vốn cho cả hai bên nhằm tạo điều kiện thúc đẩy thị trường BĐS phát triển và tăng tính thanh khoản trên thị trường thông qua việc kết nối hiệu quả giữa cung và cầu trên thị trường BĐS (Mehar, 2005). Ví dụ, NHTM không chỉ tài trợ vốn cho bên phía chủ đầu tư trong việc xây dựng, phát triển dự án mà còn tài trợ cho bên mua nhà trong việc sở hữu BĐS trong khi năng lực tài chính tự có không đủ để sở hữu BĐS ngay lập tức. Qua đó, nhờ có tín dụng BĐS mà bên mua và bên bán mạnh dạn hơn trong việc thiếp lập giao dịch trên thị trường, giúp cho thị trường BĐS phát triển, tính thanh khoản tăng lên.
Tín dụng BĐS mang lại nguồn thu nhập cao hơn cho NHTM. BĐS là loại hàng hóa đặc thù với giá trị lớn, thời gian vay vốn dài (thường là trung dài hạn) và đi kèm với rủi ro cao. Do đó theo Mehar (2005), NHTM khi tài trợ cho vay BĐS thường đòi hỏi một phần bù lãi suất hay mức biên lãi ròng (NIM) cao hơn so với 3 https://ndh.vn/ngan-hang/nhnn-dat-muc-tieu-tang-truong-tin-dung-14-nam-2020-1261064.html 4 các sản phẩm cho vay cho các mục đích khác như sản xuất kinh doanh, tài trợ vốn lưu động thông thường. Bên cạnh đó, ngoài việc tài trợ cho vay BĐS thì NHTM còn cung cấp thêm các sản phẩm, dịch vụ kèm theo khác góp phần làm tăng thêm nguồn thu nhập từ phí cho NHTM như bảo lãnh, bảo hiểm.
Qua đó, tín dụng BĐS mang lại nguồn thu nhập lớn và vượt trội cho NHTM. Đây là động lực thúc đẩy một số NHTM xem tín dụng BĐS là thị trường màu mỡ để tối đa hóa nguồn thu nhập. Tăng cường tính minh bạch và hạn chế rủi ro pháp lý trong giao dịch BĐS. Theo Muhammad (2003), vấn đề còn tồn tại và cản trở rất lớn đối với sự phát triển của thị trường BĐS đó chính là sự thiếu sót của khung pháp lý rõ ràng, minh bạch; và những rủi ro tiềm ẩn trong các giao dịch BĐS.
Do vậy, với việc đóng vai trò là trung gian trong giao dịch giữa hai bên mua bán trong thị trường BĐS thì NHTM sẽ góp phần kiểm soát tính minh bạch và hạn chế rủi ro pháp lý trong giao dịch BĐS trên thị trường. Thật vậy, đối với bên bán, trước khi NHTM thẩm định cho vay sẽ xem xét hồ sơ pháp lý của dự án BĐS có hợp lệ, đầy đủ theo yêu cầu của pháp luật trước khi phê duyệt cho vay cho khách hàng. Qua đó NHTM giúp cho phía bên bán củng cố, hoàn thiện hơn về hồ sơ pháp lý của dự án. Bên cạnh đó, đối với bên mua, NHTM đóng vai trò xét duyệt giá trị pháp lý BĐS; giúp cho khách hàng an tâm hơn trong các giao dịch mua bán BĐS.
Đặc biệt, đối với một số dự án BĐS được NHTM tài trợ trọn gói thì người mua nhà cũng chuyển một phần rủi ro về phía NHTM trong trường hợp chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính để hoàn thành dự án. Hậu quả của tăng trưởng nóng tín dụng bất động sản tại ngân hàng thương mại Tăng trưởng tín dụng thường được xem là một trong những chỉ số dễ bị tổn thương nhất của hệ thống tài chính của mỗi quốc gia.