Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn huyện Thủy Nguyên. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn huyện Thủy Nguyên. 4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1.
Khái niệm, vai trò của kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 1. Khái niệm kiểm soát thu nhập của cán bộ, công chức Hiện nay, khái niệm CB, CC mới chỉ được sử dụng tại Việt Nam và một số ít các quốc gia trên thế giới. Ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ khái niệm về CB, CC đều có sự khác nhau phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của mỗi quốc gia đó, nhưng nhìn chung, CB, CC đều được coi là một bộ phận nhân lực quan trọng tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước. Có thể nói, trình độ năng lực và phẩm chất của người CB, CC là yếu tố quan trọng quyết định năng lực và hiệu quả hoạt động của nhà nước.
Tại Trung Quốc, thuật ngữ “cán bộ” thường được dùng để phân biệt giữa những nhân viên, công chức với những nhân viên tập sự, binh lính, công nhân. Ngoài ra, “cán bộ” còn là thuật ngữ chỉ những người có chức vụ lãnh đạo và công chức không có chức vụ lãnh đạo. Để có thể làm việc tại cơ quan nhà nước, các “cán bộ” này phải trải qua một chế độ thi tuyển rất nghiêm ngặt. Tại Việt Nam, khái niệm CB, CC cũng có sự khác nhau tùy thuộc vào sự thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau.
Ban đầu là thuật ngữ dùng để chỉ những người có chức vụ, quyền hạn và là lực lượng nòng cốt trong cơ quan, tổ chức của Nhà nước, có ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức và góp phần quan trọng trong việc định hướng cho sự phát triển của cơ quan, tổ chức đó. Để đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ IV Quốc hội, khoá XII, Quốc hội nước CHXNCNVN đã thông qua và ban hành Luật CB, CC. Luật này quy định cụ thể về đối tượng CB, CC và phân biệt CB, CC với các đối tượng khác được điều chỉnh bởi Luật viên chức. Theo quy định của Luật CB, CC thì CB, CC được 5 định nghĩa như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”; “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [32, khoản 1, khoản 2 Điều 4].
Định nghĩa công chức đã được sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CB, CC và Luật viên chức năm 2019, theo đó: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [33, khoản 1 Điều 1]. Với sự sửa đổi, bổ sung này, khái niệm công chức không còn đối tượng là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công 6 lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội. Thay vào đó, đối tượng là công chức đã được sửa đổi nhằm mục đích thể chế hóa chủ trương “không thực hiện chế độ công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập (trừ các đơn vị phục vụ nhiệm vụ chính trị và phục vụ quản lý nhà nước)” tại Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 khóa XII. Về khái niệm tài sản, theo Đại từ điển Tiếng Việt, tài sản được định nghĩa là “các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác.
Tài sản bao gồm vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu đã được thỏa thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản” [12]. Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự 2015 cũng đã thì tài sản cũng được định nghĩa là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản [2, Điều 45]. Trong đó, vật bao gồm thực vật, động vật và mọi vật khác với ý nghĩa vật lí tồn tại ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí). Bên cạnh vật, tiền, giấy tờ có giá, tài sản còn được xác định là quyền tài sản theo quy định tại Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015.
Quyền tài sản được định nghĩa là những quyền trị giá có thể đo lường bằng tiền, bao gồm các quyền như quyền tài sản đối với đối tượng là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản khác. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay, phạm vi tài sản rất rộng lớn, bao gồm tất cả các tư liệu tiêu dùng trong xã hội và tư liệu sản xuất Về khái niệm thu nhập, theo từ điển Tiếng Việt thì “thu nhập” là “nhận được tiền nong, của cải từ một hoạt động nào đó để chi dùng cho cuộc sống” [46]; hay “là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó” [47]. Tuy ở mỗi công trình nghiên cứu lại đưa ra một định nghĩa khác nhau về thu nhập nhưng từ các định nghĩa nêu trên có thể thấy, thu nhập có những đặc điểm cơ bản sau: thu nhập là phần thuộc về một cá nhân hoặc tổ chức trong xã hội; thu nhập được 7 hình thành thông qua quá trình phân phối và phân phối lại do thị trường và nhà nước thực hiện; thu nhập phản ánh mức độ sở hữu tài sản của chủ thể, được xác định trong một khoảng thời gian nhất định, và thường được biểu hiện dưới dạng tiền tệ. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về thu nhập, đó là: Thu nhập là tổng các giá trị mà một cá nhân hoặc tổ chức đã thu được trong một khoảng thời gian nhất định, không phụ thuộc vào nguồn gốc phát sinh thu nhập.
Thông qua hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập, có thể đánh giá được tỷ lệ tương đối của thu nhập chính so với các thu nhập bên ngoài khác của CB, CC, qua đó có thể so sánh, đánh giá những tài sản mà CB, CC đang nắm giữ có tương xứng với khoản thu nhập từ tiền lương theo chức vụ, quyền hạn mà CB, CC đang nắm giữ hay không. Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiểm soát” được định nghĩa là “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định pháp luật”[47]. Điều này có nghĩa là khi thực hiện việc kiểm soát tài sản, thu nhập của CB, CC, pháp luật sẽ xây dựng các điều kiện để phát hiện hành vi vi phạm pháp luật và phát hiện các chủ thể có khả năng thực hiện hành vi đó. Từ các quy định chung của pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ đối chiếu vào thực tiễn để xác định chủ thể thỏa mãn điều kiện trở thành đối tượng thuộc phạm vi kiểm soát; đồng thời chủ thể có thẩm quyền có thể chủ động tiến hành theo dõi các hành vi các đối tượng chịu sự kiểm soát nhằm phát hiện những dấu hiệu vi phạm các quy tắc chung đã được thừa nhận.
Nếu phát hiện đối tượng có hành vi vi phạm, gây ảnh hưởng đến các nguyên tắc kiểm soát đã đặt ra thì tùy từng trường hợp sẽ bị xử lí hình sự, hành chính, dân sự hoặc kỷ luật theo đúng quy định của pháp luật. Ở góc độ lý luận, khái niệm “kiểm soát” thường được hiểu tương tự với các khái niệm “giám sát”, “kiểm tra”, “thanh tra”. Giám sát được hiểu là việc kiểm tra và theo dõi việc thực hiện những quy định đã được đặt ra của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và điều chỉnh bằng các biện pháp tích cực để hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, đúng quy định nhằm đạt 8 được mục đích và hiệu quả đã được đề ra trước đó. Còn kiểm tra là hoạt động đánh giá, xem xét việc thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước nhằm đảm bảo các quy định được thực hiện đúng và hiệu quả.
Thanh tra được định nghĩa là hoạt động xem xét, làm rõ tính đúng, sai trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và xử lý theo thủ tục, trình tự do luật định.