Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÔNG 7 1. Tổng quan về quản lý tài sản công 1. Khái niệm tài sản công Bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào một trong các nguồn nội lực của mình là tài sản quốc gia. Đó là tất cả những tài sản do các thế hệ thành viên của quốc gia tạo ra hoặc thu nạp được và các tài sản do thiên nhiên ban tặng.
Trong phạm vi một đất nước, tài sản quốc gia có thể thuộc sở hữu riêng của từng thành viên hoặc nhóm thành viên và có thể là sở hữu chung của tất cả thành viên trong cộng đồng quốc gia. Nhà nước là chủ sở hữu đối với những tài sản quốc gia thuộc sở hữu chung của tất cả thành viên (thường gọi là tài sản công). Tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều cách hiểu khác nhau về tài sản công. Một trong những khái niệm được nhiều người chấp nhận là: Tài sản công là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành, tồn tại trong tự nhiên hoặc do con người sáng tạo ra mà quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt thuộc về Nhà nước.
Ở Việt Nam, tài sản công được quy định tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992: “Đất đai, rừng, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân” [10, trang 102]. Để cụ thể hoá quy đinh trên, tai Điều 200 của Bộ luât Dân sư năm 2005 đã quy định: “ Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định” [13, trang 98]. Tiếp đó tại các Điều 239, 240, 241, 644 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định cụ thể các tài sản khác thuộc sở hữu nhà nước bao gồm: - Vật vô chủ là vật mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với vật đó. Người 8 phát hiện vật vô chủ là bất động sản thì bất động sản đó thuộc Nhà nướcể - Vật bị chôn dấu, chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được ai là chủ sở hữu thì sau khi trừ đi chi phí tìm kiếm, bảo quản, quyền sở hữu đối với vật đó được xác định như sau: Vật được tìm thấy là di tích lịch sử, văn hoá thì người tìm thấy vật đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.
- Sau một năm kể từ ngày thông báo cồng khai về vật nhặt được mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận nếu vật đó có giá trị đến 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì vật đó thuộc sở hữu của người nhặt được; nếu vật tìm thấy mà có giá trị lớn hơn 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước. Người nhặt được vật đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật. - Trong trường hợp khồng có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhân thừa kế thuộc Nhà nước. Ngoài tài sản nêu trên, tài sản công còn bao gồm: - Tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nươc hiến, biếu, tặng, cho, đóng góp, giao lại cho Nhà nước, tài sản viện trợ của các tổ chức Chính phủ, phi Chính phủ.
- Tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật bị tịch thu sung quỹ nhà nước. - Tài sản dự trữ của Nhà nước - Tài sản công giao cho các công ty nhà nước quản lý và vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp khác thánh lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Hợp tác xã. Từ những căn cứ pháp luật hiện hành, chúng ta có thể khẳng định rằng: Tài sản công là những tài sản được đầu tư, mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước theo 9 quy định của pháp luật, tài sản của các chương trình, dự án kết thúc chuyển giao, đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên của vùng biển, thềm lục địa và vùng trời. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế tài sản công bao gồm: - Tài sản phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị gồm: hoạt động phòng bệnh, khám, chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, đào tạo trong lĩnh vực y tế và các hoạt động khác theo quy định về chức năng, nhiệm vụ của đơn vị được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt - Tài sản phục vụ hoạt động phụ trợ, hỗ trợ trực tiếp cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ gồm: cung cấp dịch vụ ăn uống, trông, giữ xe cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của đơn vị, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, khách đến giao dịch, công tác; giới thiệu, trưng bày, kinh doanh, cung cấp các sản phẩm trong lĩnh vực y tế; giặt là, khử khuẩn, vệ sinh; dịch vụ lưu trú cho người nhà bệnh nhân.
Đặc điểm của tài sản công - Mọi chế độ xã hội khác nhau đều tồn tại tài sản công. Trong hình thái kinh tế - xã hội, quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu thì tài sản công chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng tài sản quốc gia. Còn trong chế độ Xã hội chủ nghĩa thì tài sản công do Nhà nước là chủ sở hữu và chiếm phần lớn trong tổng tài sản quốc gia; - Tài sản công là một bộ phận quan trọng trong tài sản quốc gia - Tài sản công bao hàm các loại tài sản có được từ đầu tư xây dựng, mua sắm bằng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, các tài sản khác mà Nhà nước thu nạp được và các nguồn tài sản do thiên nhiên ban tặng cho con người. Tất cả các tài sản, tài nguyên đó đều thuộc hình thức sở hữu nhà nước; do Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền của chủ sở hữu (quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt) - Tài sản công rất đa dạng và phong phú, được phân bố rộng trên phạm vi cả nước.
Ở Việt Nam, Nhà nước giao tài sản công cho các ngành, các cấp, các cơ quan 10 quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp quản lý, sử dụngễ Riêng tài sản công là đất đai, Nhà nước còn giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng - Trong nền kinh tế thị trường, đối với những tài sản công Nhà nước giao cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, kinh doanh.Tài sản công không chỉ bao hàm những tài sản hữu hình mà còn có những tài sản công được thể hiện là những tài sản vô hình. Đối lập với tài sản công là tài sản tư. Sự khác biệt cơ bản giữa tài sản công và tài sản tư được thể hiện ở những điểm cơ bản sau: Một là, tài sản công thuộc sở hữu công cộng bao gồm sở hữu Nhà nước, sở hữu của các tổ chức kinh tế, xã hội, nghĩa là sở hữu của nhiều người. Còn tài sản tư là những tài sản thuộc sở hữu của cá nhân hoặc một số thành viên trong xã hội Hai là, tài sản công đựơc sử dụng, khai thác vì lợi ích chung của toàn xã hội, còn tài sản tư được sử dụng, khai thác vì lợi ích riêng của chủ sở hữu Ba là, việc quản lý tài sản công chịu sự điều chỉnh của luật công, còn việc quản lý tài sản tư không chịu sự điều chỉnh của luật công mà tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng của chủ sở hữu và pháp luật hiện hành.
Về thực chất, sự khác biệt giữa tài sản công và tài sản tư xuất phát từ sự khác biệt trong việc phân định 3 quyền: sở hữu, sử dụng và định đoạt giữa tài sản công và tài sản tư hoàn toàn không giống nhau, cụ thể là: Đối với tài sản tư, 3 quyền trên được tập trung ở chủ sở hữu. Do vậy, việc sở hữu, sử dụng và định đoạt được thực hiện theo ý muốn chủ quan của chủ sở hữu mà không phụ thuộc vào khách thể nào. Đối với tài sản công: 3 quyền trên được tách rời trong thực tế quản lý tài sản công do việc Nhà nước giao tài sản công cho các ngành, các cấp, các cơ quan nhà nước.quản lý, sử dụng (đối với tài sản công là đất đai, nhà nước còn giao cho hộ gia đình, cá nhận sử dụng).