CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Khái niệm kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Để làm rõ khái niệm kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, đầu tiên cần tìm hiểu các khái niệm “tài sản”, “thu nhập”, “cán bộ, công chức" và “kiểm soát”. Khái niệm tài sản “Tài sản” là thuật ngữ gắn liền tới sự hình thành, phát triển của xã hội và được sử dụng phổ biến để chỉ những gì mà con người sở hữu. Khi xã hội phát triển và hình thành các quan niệm về sở hữu thì quan niệm về tài sản bắt đầu được nói đến và thể hiện đầy đủ hơn.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì tài sản được hiểu là: “Của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu”[19,tr. Tuy nhiên, đối với từng lĩnh vực khác nhau thường có những quan điểm khác nhau về tài sản, cụ thể: Đối với lĩnh vực tài chính – kế toán, tài sản được hiểu là bất kỳ nguồn lực nào được sở hữu hoặc kiểm soát bởi một doanh nghiệp hay thực thể kinh tế. Nó là tất cả những thứ được dùng với mục đích sản xuất ra giá trị kinh tế tích cực. Tài sản là quyền sở hữu có thể chuyển đổi thành tiền, tuy nhiên tiền cũng có thể coi là một loại tài sản.
Tài sản có thể được chia thành hai nhóm chính: tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Tài sản hữu hình bao gồm nhiều loại, trong đó có tài sản cố định và tài sản lưu động. Tài sản lưu động bao gồm tiền mặt, hàng tồn kho và khoản phải thu, trong khi tài sản cố định bao gồm đất đai, công trình và thiết bị sản xuất. Các tài sản vô hình là những nguồn lực và quyền lợi phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, có thể mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường.
Tài sản vô hình là những nguồn lực và quyền lợi không có hình thể vật chất mà có giá trị kinh tế và có thể được sử dụng để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho cá nhân hoặc tổ chức trong hoạt động kinh doanh. Điều này có thể bao gồm các yếu tố như quyền sở hữu trí tuệ (bản quyền, bằng sáng chế), tên thương hiệu, giấy phép, các quyền liên quan đến tài chính như cổ phần, trái phiếu, cũng như các dữ liệu, thông tin và các quy trình không vật chất mà doanh nghiệp sở hữu và có thể khai thác để tạo ra giá trị kinh tế. Việc phân loại và hiểu rõ tính chất của từng loại tài sản là rất quan trọng để quản lý và bảo vệ tài sản hiệu quả trong hoạt động 6 kinh doanh và trong các hoạt động pháp lý.1 Đối với lĩnh vực pháp luật, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rõ trong Điều 105 : “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản.
Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Trong đó, động sản được hiểu là những tài sản không phải là bất động sản, còn bất động sản theo Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015 bao gồm [9]: - Đất đai; - Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; - Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; - Tài sản khác theo quy định pháp luật. Khái niệm thu nhập Về “thu nhập” cũng có nhiều định nghĩa. Theo từ điển tiếng Việt, thu nhập là “.nhận được tiền nong, của cải từ một hoạt động nào đó để chi dùng cho cuộc sống” [19, tr.
Trong khi đó, tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà khoa học quan niệm về thu nhập dưới các góc độ khác nhau. Hai nhà kinh tế Anh là R.Simons vào đầu thế kỷ 20 đã đưa ra định nghĩa về thu nhập, trong đó cho rằng: “thu nhập là tổng giá trị của tài sản ròng tăng lên của một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của người đó trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm”2. Quan điểm này mang tính lý thuyết và được chấp nhận rộng rãi trong giới nghiên cứu. Ở Việt Nam, cũng có quan điểm tương tự về thu nhập, khi xem đó là: “khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó” [17, tr.
Tóm lại, có thể hiểu thu nhập là tất cả các giá trị vật chất mà một chủ thể nhận được, thu được trong một khoảng thời gian nhất định, không phân biệt nguồn phát sinh. Giữa tài sản và thu nhập của một chủ thể có mối liên hệ mật thiết, nhưng không đồng nhất. Thu nhập là giá trị, lợi ích nhận được do lao động chính đáng mang lại, hoặc được tặng cho, thừa kế trong một khoảng thời gian nhất định, là nguồn vật chất tạo 1 Thông tư 23/2023/TT-BTC về khấu hao tài sản cố định (thay thế Thông tư 45/2018/TT-BTC) về hướng dẫn chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và tài sản cố định do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành ngày 25/4/2023. "The Concept of Income – Economic and Legal Aspects".
In The Federal Income Tax, Columbia University Press; Simons, H. Personal Income Taxation: The Definition of Income as a Problem of Fiscal Policy. University of Chicago Press. 7 nên tài sản, ngoài ra tài sản có được còn có thể do được tặng cho, được thừa kế v.
Đối với cán bộ, công chức, những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước thì lương là nguồn thu căn bản, ngoài ra có thể có những nguồn thu hợp pháp khác. Do đó, tài sản mà họ có được về nguyên tắc phải tương xứng với thu nhập hợp pháp của họ. Như vậy, có thể so sánh giữa tài sản đang có với thu nhập hợp pháp mà một cán bộ, công chức có thể nhận được trong khoảng thời gian nhất định để tìm ra mối tương đồng giữa tài sản và thu nhập, qua đó thấy được những tài sản có nguồn gốc từ thu nhập bất hợp pháp (có thể là do tham nhũng mà có) và áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng. Khái niệm cán bộ, công chức Theo Từ điển Tiếng Việt, "cán bộ" là thuật ngữ được dùng để chỉ những người làm việc trong các cơ quan nhà nước hoặc đoàn thể, thường đảm nhiệm các vai trò lãnh đạo, quản lý hoặc chuyên môn [19, tr.
Điều này nhấn mạnh vai trò của cán bộ trong việc thực thi các nhiệm vụ có tính chất nghiệp vụ và quản lý. Định nghĩa này khẳng định rằng "cán bộ" không chỉ bao gồm những người giữ chức vụ lãnh đạo mà còn cả những người tham gia vào công tác chuyên môn, hỗ trợ cho quá trình vận hành của cơ quan hoặc tổ chức. Bên cạnh đó, “công chức” được hiểu là người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước [19, tr. Theo Khoản 1 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” Theo Khoản 3 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.”[10] Theo khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2019: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp 8 huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Khái niệm kiểm soát Theo pháp luật hiện hành, tất cả các đối tượng nêu trên đều chịu sự kiểm soát tài sản, thu nhập. Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiểm soát” là “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định” [19, tr. Tuy nhiên, trong thực tế, tùy vào từng lĩnh vực mà kiểm soát được định nghĩa khác nhau, cụ thể: Trong quản trị kinh doanh, theo Robert J. Mockler: “Kiểm soát là một nỗ lực có hệ thống trong quản trị kinh doanh để so sánh kết quả thực hiện với tiêu chuẩn, kế hoạch, các mục tiêu đã đề ra.
Từ đó xác định sự phù hợp và thực hiện bất kỳ hành động khắc phục cần thiết để chứng minh các nguồn lực doanh nghiệp đang được sử dụng có hiệu lực và hiệu quả khi đạt các mục tiêu.” 3 Trong quản lý nhà nước, kiểm soát là khái niệm chỉ các hoạt động nhằm xem xét, theo dõi và đánh giá để ngăn ngừa và loại bỏ các nguy cơ, hành vi sai trái của cơ quan và nhân viên nhà nước trong quá trình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Mục tiêu của kiểm soát là đảm bảo quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện theo đúng mục đích, đạt được hiệu quả cao nhất có thể.