Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về kiểm soát rủi ro và hoàn thuế giá trị gia tăng. Chương 3: Thực trạng về quản lý hoàn thuế GTGT tại Chi cục thuế Khu vực Tân Uyên Chương 4: Kết quả nghiên cứu định lượng về công tác kiểm soát rủi ro và hoàn thuế giá trị gia tăng tại Chi cục thuế Khu vực Tân Uyên Chương 5: Kết luận, giải pháp và kiến nghị 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 2. Tổng quan về lý thuyết kiểm soát rủi ro 2. Khái niệm và phân loại rủi ro 2.
Khái niệm rủi ro Bất cứ hoạt động nào cũng chứa đựng trong đó những rủi ro tiềm ẩn. Ví dụ: - Hoạt động của tự nhiên như: mưa bão có thể gây ngập lụt; nắng lâu ngày có thể gây nên hạn hán ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. - Hoạt động của máy móc, thiết bị: vận hành lâu ngày có thể bị hư hỏng ngừng hoạt động. - Hoạt động của con người: khi điều khiển phương tiện giao thông có thể gây tai nạn nếu không quan sát và chấp hành đúng quy định của pháp luật về giao thông.
- Hoạt động quản lý của con người: sự phá sản của một công ty đa quốc gia có thể dẫn đến sự phá sản của nhiều công ty ở các quốc gia khác nhau, gây khủng hoảng tài chính ở nhiều nước. - Hoạt động quản lý thuế: việc áp dụng một chính sách thuế phức tạp không bao quát hết nguồn thu dẫn đến thực hiện khó và thất thu; các qui trình quản lý thuế chưa qui định rõ ràng thì sự phối hợp giữa các bộ phận liên quan sẽ làm hạn chế đến kết quả trong công tác quản lý thuế. Rủi ro là một khái niệm có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau: - Theo quan niệm truyền thống thì rủi ro là một khái niệm có tính chất tiêu cực. Theo từ điển Oxford, “Rủi ro là một khả năng tổn thất” hoặc theo Webster’s thì “Rủi ro là gặp phải sự nguy hiểm hay nguy cơ”.
Chẳng hạn, cơ quan Thuế nếu không kiểm tra kịp thời các Doanh nghiệp (DN) sẽ bỏ trốn (tương lai rất gần) có thể gây thất thu thuế đây là rủi ro bên trong hành động; Dịch bệnh, khủng hoảng tài chính toàn cầu (ở hiện tại) có thể gây thiệt hại (trong tương lai rất gần), hậu quả của nó có thể rất nhiều công ty bị phá sản, đây là rủi ro chứa đựng bên trong một sự kiện không mong muốn xảy ra. - Một tiếp cận khác thì rủi ro là một sự sai biệt, biến động và không chắc chắn. Cụ thể, theo Phillipe Jorion thì “Rủi ro được xem như là sự biến động của những kết quả không kỳ vọng mà những kết quả này tượng trưng cho giá trị của những tài sản, vốn chủ sở hữu hay thu nhập” hoặc “Rủi ro là mức độ không chắc chắn về thu nhập của một tài sản”. 9 - Theo quan điểm hiện đại: ISO/IEC Guide 73 hướng dẫn về quản lý rủi ro (2009) định nghĩa rủi ro là sự kết hợp khả năng xảy ra của một sự kiện và hệ quả của nó.
Trong tất cả các hoạt động, luôn có mối tiềm ẩn đối với các sự kiện và hệ quả, tạo thành các cơ hội có lợi (mặt phải) hoặc đe dọa thành công (mặt trái) của rủi ro. Trong lĩnh vực hoạt động đặt ra mức độ an toàn, nhìn chung hệ quả do rủi ro tạo ra chỉ có tính bất lợi, vì vậy quản lý rủi ro trong lĩnh vực này thường tập trung vào việc phòng chống và giảm nhẹ tác hại mà rủi ro có thể gây ra. Quan điểm về quản lý thuế theo rủi ro này phù hợp với thực tế hiện nay. Từ các quan điểm nêu trên, có thể khái niệm rủi ro như sau: - Rủi ro là một sự kiện bình thường không thể tránh được trong cuộc sống hàng ngày.
- Rủi ro là một sự kiện có thể xảy ra làm ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đến mục tiêu hoạt động của tổ chức, cá nhân. - Hiểu biết về rủi ro và kiểm soát rủi ro là một phần quan trọng trong cuộc sống nhằm tránh tổn thất, đạt được lợi ích và tăng thu nhập. Phân loại rủi ro ISO/IEC Guide 73 hướng dẫn về quản lý rủi ro (2009) phân loại theo các nhóm rủi ro sau: - Rủi ro chiến lược là những rủi ro phát sinh do tồn tại trong một ngành hoặc một khu vực địa lý như cạnh tranh, xu hướng xã hội, tính sẵn có của vốn.… - Rủi ro hoạt động là những rủi ro phát sinh trong quá trình thực thi các qui trình, thủ tục nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động của tổ chức như: Sự hài lòng của khách hàng, thất bại về sản phẩm, rủi ro uy tín, tính chính trực.… - Rủi ro tài chính là những rủi ro phát sinh từ cơ cấu tài chính của tổ chức, các giao dịch do bên thứ ba và các hệ thống tài chính hiện hành như: Rủi ro giá, rủi ro tài sản, rủi ro tiền tệ, rủi ro thanh khoản, rủi ro trả nợ.… - Rủi ro hiểm hoạ là những vi phạm về nghĩa vụ, hư hại tài sản, thảm họa thiên nhiên như: ô nhiễm, chiến tranh, tệ nạn xã hội. - Rủi ro tuân thủ: là những rủi ro bắt nguồn từ việc không tuân thủ luật, qui định và các thông lệ xã hội; nếu vi phạm sẽ gây ra hậu quả cho tổ chức, cho cộng đồng, xã hội như: vi phạm luật giao thông, tham nhũng, trốn thuế… 2.2 Đánh giá rủi ro ISO/IEC Guide 73 (2009) đánh giá theo rủi ro: khi quá trình phân tích theo rủi ro kết thúc, cần so sánh những rủi ro đã đạt được ước tính với những tiêu chí rủi ro mà tổ chức đã thiết lập.
Những tiêu chí về rủi ro này có thể bao gồm chi phí và lợi nhuận liên quan, các yêu cầu về luật pháp, các nhân tố môi trường và 10 KTXH, sự quan tâm của các bên liên quan cùng hưởng lợi… Vì vậy, đánh giá rủi ro được sử dụng để đưa ra các quyết định về những rủi ro trọng yếu đối với tổ chức và đối với từng rủi ro cụ thể nên chấp nhận hay xử lý.3 Kiểm soát rủi ro ISO/IEC Guide 73 (2009) xử lý rủi ro: là quy trình lựa chọn và áp dụng các biện pháp thay đổi rủi ro. Xử lý rủi ro bao gồm nhân tố chính là kiểm soát /hạn chế rủi ro. Bất kỳ hệ thống xử lý rủi ro nào tối thiểu cũng phải đạt được: - Hoạt động của đơn vị có hữu hiệu và hiệu quả. - Hệ thống kiểm soát nội bộ có hữu hiệu.
- Tính tuân thủ pháp luật. Theo đó việc nhận dạng các rủi ro cần có sự quan tâm của cấp quản lý, quy trình phân tích rủi ro giúp cho hoạt động của tổ chức đạt được hữu hiệu và hiệu quả, Ban lãnh đạo cần sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các hoạt động kiểm soát rủi ro theo góc độ tiềm năng có ích cho đơn vị. Tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát rủi ro là mức độ mà rủi ro sẽ bị loại bỏ hoặc sẽ bị hạn chế nhờ các biện pháp quản lý được đề xuất. Hiệu quả chi phí của hệ thống kiểm soát rủi ro được xác định trên các cơ sở so sánh chi phí thực hiện việc kiểm soát với lợi ích ước tính thu được từ hạn chế rủi ro.
Các biện pháp quản lý đề ra phải được cân nhắc về tác động kinh tế tiềm tàng trong từng trường hợp không có biện pháp xử lý và chi phí thực hiện các biện pháp dự kiến trong trường hợp có thực hiện theo các biện pháp đó. Chi phí thực hiện phải được tính toán chính xác bởi vì nó trở thành ranh giới để xác định tính hiệu quả. Nếu không có biện pháp xử lý thì những thất thoát có thể xảy ra sẽ phải được ước tính và thông qua việc so sánh các kết quả. Ban lãnh đạo có thể quyết định nên thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro hay không.
Việc tuân thủ luật pháp là điều bắt buộc. Mỗi tổ chức cần phải hiểu các luật lệ có thể áp dụng được và phải triển khai một hệ thống kiểm soát nhằm đạt được sự tuân thủ pháp luật. Kiểm soát rủi ro trong đơn vị hành chính công 2. Khái niệm kiểm soát rủi ro trong đơn vị công Luật Kiểm toán Nhà nước đã xác định hoạt động kiểm toán nhà nước là: Việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; Việc tuân thủ pháp luật; Tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.
Do đó hoạt động kiểm toán nhà nước là một hình thức hậu kiểm phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát của Nhà 11 nước, từ việc kiểm tra, những sai phạm hoặc yếu kém sẽ được phát hiện góp phần ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả của Nhà nước, trong đó chủ yếu là các đơn vị thuộc khu vực công. Tuy nhiên, nhìn từ dưới góc độ chủ động phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm và yếu kém, một hệ thống tiền kiểm cũng không kém phần quan trọng cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Đó chính là KSRR trong các đơn vị thuộc khu vực công. Trong bài nghiên cứu này, tác giả xem xét các mối quan giữa phương pháp xác định rủi ro kiểm toán với rủi ro hoạt động kiểm soát thuế để nâng cao KSRR trong đơn vị thuộc khu vực công, cụ thể là Chi cục Thuế Khu vực Tân Uyên - Bình Dương, nhằm phát huy cao nhất năng lực kiểm tra, giám sát của Nhà nước.
Có thể nói, sự phát triển mạnh mẽ của các hình thức gian lận với thiệt hại lớn tại các đơn vị (bao gồm cả khối doanh nghiệp và hành chính công), đã dẫn đến sự quan tâm của xã hội đến hoạt động KSRR. Dựa trên Báo cáo COSO 1992 của Ủy ban các tổ chức đồng bảo trợ (thường được gọi là COSO) của Hội đồng quốc gia chống gian lận báo cáo tài chính Hoa Kỳ (thường gọi là Ủy ban Treadway) đã công bố, đưa ra một khuôn mẫu về kiểm soát nội bộ. Báo cáo này thông qua việc cung cấp cái nhìn toàn diện về kiểm soát nội bộ, đã đặt nền tảng cho các lý thuyết về KSNB ngày nay. Các nghiên cứu sau đó được phát triển mạnh, chuyên sâu vào các loại tổ chức hoặc các loại hình hoạt động khác nhau.
Năm 2001, COSO tiếp tục triển khai nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp (ERM) trên cơ sở báo cáo COSO 1992.