Giáo trình Kiểm soát nhiễm khuẩn lưu hành nội bộ - Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Tài liệu hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn lưu hành nội bộ chi tiết, cung cấp quy trình và giải pháp phòng ngừa lây nhiễm hiệu quả cho cơ sở y tế.

Chuyên ngành

Kiểm soát nhiễm khuẩn

Thể loại

Giáo trình

2017

206
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiểm soát nhiễm khuẩn lưu hành nội bộ

Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện đóng vai trò sống còn trong quản lý y tế hiện đại. Tài liệu lưu hành nội bộ cung cấp khung hướng dẫn chuẩn mực cho các cơ sở điều trị. Hệ thống này bao gồm bộ ba liên kết: Hội đồng, Khoa và Mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn. Mỗi bộ phận giữ nhiệm vụ giám sát dịch tễ, ban hành quy chế và đánh giá rủi ro định kỳ. Vi sinh vật bệnh viện thường có khả năng kháng thuốc cao. Chúng tồn tại bền bỉ trên các bề mặt tiếp xúc và dụng cụ y tế. Môi trường lâm sàng vì thế luôn đối mặt với nguy cơ bùng phát dịch bệnh chéo. Do đó, việc xây dựng chính sách phòng ngừa nội bộ là yêu cầu cấp thiết. Mọi nhân viên y tế cần nắm vững nguyên tắc vệ sinh để giảm tỷ lệ tử vong và rút ngắn ngày nằm viện. Chi phí điều trị của bệnh nhân cũng giảm đáng kể khi loại trừ được biến chứng nhiễm khuẩn. Giáo trình nội bộ thiết lập chuẩn mực an toàn cho toàn bộ quy trình chăm sóc.

1.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy kiểm soát nhiễm khuẩn

Bộ máy quản lý nhiễm khuẩn tại bệnh viện gồm ba cấp độc lập nhưng phối hợp chặt chẽ. Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn giữ vai trò tham mưu và phê duyệt chính sách chuyên môn. Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn trực tiếp tổ chức, điều phối các hoạt động giám sát hằng ngày. Mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn bao gồm các đại diện từ từng khoa phòng lâm sàng. Mạng lưới này đôn đốc thực hiện quy định và phát hiện sớm các vi phạm an toàn sinh học. Sự phân cấp rõ ràng giúp quy trình vận hành thông suốt và đồng bộ. Dữ liệu giám sát từ khoa phòng được chuyển về bộ phận chuyên trách để phân tích kịp thời. Cấu trúc chặt chẽ bảo đảm môi trường chăm sóc an toàn tối đa cho bệnh nhân.

1.2. Tầm quan trọng của tài liệu hướng dẫn nội bộ

Giáo trình lưu hành nội bộ chuẩn hóa mọi thao tác chuyên môn của nhân viên y tế. Văn bản này thống nhất quy trình thực hành từ rửa tay đến xử lý chất thải lây nhiễm. Việc áp dụng đúng tài liệu giúp hạn chế sai sót kỹ thuật trong chăm sóc. Mầm bệnh không có cơ hội phát tán sang khu vực bệnh phòng khác. Tài liệu cũng đóng vai trò cơ sở pháp lý và căn cứ đánh giá chất lượng chuyên môn. Nhân viên mới dễ dàng tiếp cận kiến thức khử khuẩn qua các hướng dẫn chi tiết. Bệnh viện duy trì được tính đồng bộ trong kiểm soát vi sinh vật đề kháng. Nhờ đó, rủi ro tai biến y khoa giảm xuống mức tối thiểu, mang lại hiệu quả điều trị cao.

II. Phân tích nguy cơ kiểm soát nhiễm khuẩn lưu hành nội bộ

Sự lây truyền vi sinh vật trong cơ sở điều trị diễn ra qua nhiều phương thức phức tạp. Ba con đường lây truyền chính gồm: tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp, qua giọt bắn và qua đường không khí. Bàn tay nhân viên y tế chứa nhiều vi khuẩn tạm thời sau mỗi lần thăm khám. Nếu không rửa tay đúng cách, bàn tay trở thành vật trung gian truyền bệnh nguy hiểm. Các màng sinh học biofilm phát triển trên thiết bị y tế dùng lại gây cản trở chất khử khuẩn. Những chủng vi khuẩn kháng thuốc như tụ cầu vàng hay trực khuẩn mủ xanh lan rộng khó lường. Rác thải y tế sắc nhọn và kim tiêm không được phân loại đúng tiềm ẩn nguy cơ phơi nhiễm máu. Nhân viên y tế đối mặt với bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như viêm gan B, C và virus HIV. Ngoài ra, việc giũ đồ vải bẩn tạo điều kiện phát tán mầm bệnh vào không khí buồng bệnh. Môi trường chứa mầm bệnh đe dọa trực tiếp người bệnh có hệ miễn dịch suy giảm.

2.1. Nguy cơ từ sự phát tán vi khuẩn qua bàn tay

Da người có hai hệ vi khuẩn chính gồm vi khuẩn thường trú và vãng lai. Vi khuẩn vãng lai bám vào da sau khi tiếp xúc bề mặt ô nhiễm. Chúng sống sót trong nhiều giờ và dễ dàng lây sang cơ thể người bệnh. Khi thầy thuốc không tuân thủ vệ sinh tay, vi khuẩn lập tức xâm nhập vết thương hở hoặc đường truyền tĩnh mạch. Nhiễm khuẩn huyết và nhiễm khuẩn vết mổ thường bắt nguồn từ nguyên nhân này. Nhiều ổ dịch bệnh viện bùng phát chỉ vì bỏ qua bước sát khuẩn bàn tay cơ bản. Do đó, việc không rửa tay đúng quy chuẩn tạo ra lỗ hổng dịch tễ nghiêm trọng trong bệnh phòng.

2.2. Thách thức trong xử lý dụng cụ và hóa chất

Quá trình khử khuẩn dụng cụ y tế đối mặt với nhiều rào cản vật lý và sinh học. Màng sinh học biofilm bao bọc vi khuẩn, ngăn cản hóa chất khử khuẩn tiếp xúc trực tiếp. Sự hiện diện của chất hữu cơ như máu hay mủ làm giảm hoạt tính của chất diệt khuẩn. Hóa chất chứa Clo như Javel dễ bị phân hủy bởi ánh sáng và nhiệt độ môi trường. Dung dịch Glutaraldehyde cần môi trường kiềm hoạt hóa mới tiêu diệt được nha bào nguy hiểm. Nếu nhân viên y tế pha chế sai tỷ lệ nồng độ, dụng cụ sẽ không đạt chuẩn vô khuẩn. Dụng cụ y tế tái sử dụng không bảo đảm vô trùng biến thành nguồn lây mầm bệnh chéo.

III. Giải pháp thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn lưu hành nội bộ

Giải pháp kiểm soát nhiễm khuẩn đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp kỹ thuật. Phòng ngừa chuẩn là nền tảng cốt lõi áp dụng cho mọi người bệnh không phân biệt chẩn đoán. Nhân viên y tế phải mang phương tiện phòng hộ cá nhân phù hợp từng thủ thuật can thiệp. Quy trình phân loại đồ vải bẩn và đồ lây nhiễm vào túi vàng chống thấm phải thực hiện tại chỗ. Tuyệt đối không giũ đồ vải nhằm tránh phát tán bụi vi sinh vật ra môi trường. Hộp kháng thủng thu gom kim tiêm sắc nhọn đặt tại vị trí thuận tiện để tránh tai nạn đâm chọc. Khi phát hiện vật sắc nhọn rơi trên sàn, nhân viên phải dùng kẹp chuyên dụng để thu gom. Dụng cụ y tế cần làm sạch chất hữu cơ trước khi ngâm hóa chất khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn. Hóa chất như Glutaraldehyde 2% hoặc hợp chất Clo phải dùng đúng nồng độ và thời gian quy định. Mọi khâu đều tuân thủ nghiêm ngặt theo sổ tay hướng dẫn nội bộ.

3.1. Kỹ thuật cách ly phòng ngừa và vệ sinh tay

Vệ sinh tay là biện pháp đơn giản nhất nhưng mang lại hiệu quả phòng ngừa cao nhất. Nhân viên y tế cần sát khuẩn tay đúng 5 thời điểm theo khuyến cáo của Bộ Y tế. Bên cạnh phòng ngừa chuẩn, các biện pháp cách ly dựa trên đường lây truyền phải được kích hoạt kịp thời. Phòng ngừa tiếp xúc yêu cầu sử dụng găng tay và áo choàng bảo hộ khi chăm sóc. Phòng ngừa giọt bắn bắt buộc đeo khẩu trang y tế khi tiếp xúc gần dưới một mét. Phòng ngừa qua đường không khí đòi hỏi bố trí phòng áp lực âm và khẩu trang lọc hạt. Sự phân luồng người bệnh đúng tiêu chuẩn ngăn ngừa lây lan diện rộng trong bệnh viện.

3.2. Tiêu chuẩn khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ y tế

Dụng cụ y tế được phân thành ba nhóm nguy cơ theo thang phân loại Spaulding. Dụng cụ thiết yếu xâm nhập vào mô hoặc mạch máu phải được tiệt khuẩn hoàn toàn. Dụng cụ bán thiết yếu tiếp xúc niêm mạc cần khử khuẩn mức độ cao bằng dung dịch phù hợp. Dụng cụ không thiết yếu chỉ tiếp xúc da lành yêu cầu khử khuẩn mức độ trung bình hoặc thấp. Nhân viên phải rửa sạch chất bẩn trước khi ngâm hóa chất để tăng hiệu quả khử khuẩn. Dung dịch Glutaraldehyde 2% cần kích hoạt bằng dung dịch kiềm để đạt hiệu quả diệt bào tử tối đa. Quy trình kiểm tra hạn sử dụng và nồng độ hóa chất phải ghi nhận đầy đủ vào biểu mẫu giám sát.

IV. Ứng dụng thực tế của kiểm soát nhiễm khuẩn lưu hành nội bộ

Ứng dụng đồng bộ tài liệu hướng dẫn nội bộ mang lại bước chuyển lớn cho công tác điều trị. Chất lượng an toàn bệnh viện phản ánh trực tiếp năng lực quản lý rủi ro y tế. Việc tuân thủ quy chuẩn phòng ngừa giúp triệt tiêu nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp cho y bác sĩ. Các phác đồ điều trị sau phơi nhiễm HIV và viêm gan phải luôn sẵn sàng tại tủ thuốc cấp cứu. Bên cạnh đó, việc kiểm tra định kỳ hạn chế tối đa tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn cơ hội. Đào tạo liên tục cho nhân viên y tế mới tuyển dụng bảo đảm tính liên tục của quy trình an toàn sinh học. Bệnh viện tiết kiệm nguồn kinh phí điều trị và nâng cao sự hài lòng từ người bệnh. Tài liệu lưu hành nội bộ chính là kim chỉ nam cho sự phát triển y tế bền vững. Mọi cơ sở y tế cần chuẩn hóa tài liệu để nâng cao hiệu lực kiểm soát môi trường.

4.1. Quy trình xử lý và dự phòng sau phơi nhiễm

Tai nạn phơi nhiễm với máu và dịch tiết đòi hỏi hành động xử lý ngay lập tức. Nhân viên y tế cần rửa vết thương dưới vòi nước chảy và xà phòng sát khuẩn. Không nặn bóp vết thương làm tăng diện tích tổn thương mô mềm. Báo cáo tai nạn lao động cho người phụ trách kiểm soát nhiễm khuẩn để lập hồ sơ theo dõi. Việc xét nghiệm đánh giá tình trạng nguồn phơi nhiễm phải hoàn thành trong 24 giờ đầu. Thuốc kháng virus dự phòng (PEP) cần uống càng sớm càng tốt, tối ưu trong vòng vài giờ đầu. Quy trình theo dõi xét nghiệm huyết thanh kéo dài đủ chu kỳ quy định để bảo đảm an toàn sinh mạng.

4.2. Giám sát định kỳ và cải tiến chất lượng y tế

Hoạt động giám sát dịch tễ học cung cấp số liệu thực tế về tỷ lệ nhiễm khuẩn. Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn tiến hành kiểm tra đột xuất việc rửa tay và đeo găng. Bệnh viện lập bảng kiểm tra chất lượng môi trường phòng mổ và buồng hồi sức định kỳ. Mọi ca nhiễm khuẩn vết mổ hay viêm phổi thở máy đều được phân tích nguyên nhân gốc rễ. Kết quả kiểm tra giúp ban giám đốc điều chỉnh quy trình và bổ sung thiết bị kịp thời. Các khóa đào tạo cập nhật kiến thức được tổ chức thường xuyên cho toàn thể nhân sự. Nhờ giám sát liên tục, văn hóa an toàn người bệnh trở thành thói quen thường trực trong mỗi thao tác.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/10/2026
Kiểm soát nhiễm khuẩn lưu hành nội bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Cách ly phòng ngừa là biện pháp quan trọng nhằm ngăn ngừa sự lan truyền nhiễm khuẩn bệnh viện, giúp làm giảm tỉ lệ tử vong, rút ngắn thời gian nằm viện và giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân. Đây là một trong những vấn đề chủ yếu của chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện. Cách ly phòng ngừa bao gồm phòng ngừa chuẩn (phòng ngừa cho tất cả bệnh nhân) và phòng ngừa dựa theo đường lây truyền (phòng ngừa bổ sung thêm với phòng ngừa chuẩn trong một số bệnh lý đặc biệt). Năm 1970, trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) đưa ra khái niệm về cách ly phòng ngừa lần đầu tiên với 7 phương pháp cách ly theo mã màu khác nhau bao gồm: phòng ngừa tuyệt đối, phòng ngừa bảo vệ, phòng ngừa lây truyền qua hô hấp, đường ruột, vết thương, chất thải và máu.

Vào 1985 do sự bùng phát của dịch HIV/AIDS, CDC ban hành hướng dẫn phòng ngừa mới gọi là phòng ngừa phổ cập (Universal Precautions). Theo hướng dẫn này, máu được xem như là nguồn lây truyền quan trọng nhất và dự phòng những phơi nhiễm qua đường máu là cần thiết. Năm 1995, khái niệm phòng ngừa phổ cập được chuyển thành phòng ngừa chuẩn (Standard Precautions). Phòng ngừa chuẩn mở rộng khuyến cáo phòng ngừa không chỉ qua đường máu mà qua cả các chất tiết từ cơ thể.

Từ năm 2007, sau khi có dịch SARS và cúm A/H5N1 A/H1N1 bùng phát, CDC và các tổ chức kiểm soát nhiễm khuẩn đã bổ sung khuyến cáo cẩn trọng trong vệ sinh hô hấp (respiratory etiquette) vào phòng ngừa chuẩn để phòng ngừa cho tất cả những người bệnh có các triệu chứng về đường hô hấp. Phòng ngừa chuẩn được định nghĩa là tập hợp các biện pháp phòng ngừa áp dụng cho tất cả những người bệnh trong bệnh viện không tùy thuộc vào chẩn đoán và tình trạng nhiễm khuẩn của người bệnh. Mục tiêu của phòng ngừa chuẩn là nhằm phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm chéo qua máu, dịch tiết cơ thể, chất tiết (trừ mồ hôi) cho dù chúng được nhìn thấy có chứa máu hay không, và da không lành lặn và niêm mạc. Coi tất cả máu, dịch sinh học, các chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) đều có nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm.

Đây là biện pháp phòng ngừa quan trọng nhất, nhằm hạn chế cả sự lây truyền từ người sang người cũng như từ người sang môi trường. 21 Phòng ngừa dựa theo đường lây truyền được định nghĩa là phòng ngừa bổ sung áp dụng cho những bệnh nhân nghi ngờ có nhiễm những tác nhân gây bệnh quan trọng lây truyền qua tiếp xúc, qua không khí hoặc qua giọt bắn. Ba phòng ngừa này có thể kết hợp với nhau cho những bệnh có nhiều đường lây truyền. Khi sử dụng đơn thuần hay phối hợp chúng phải được kết hợp với phòng ngừa chuẩn.

Việc tuân thủ các quy định của cách ly phòng ngừa đóng góp quan trọng vào việc làm giảm nhiễm khuẩn liên quan đến cơ sở y tế, phơi nhiễm nghề nghiệp cho nhân viên y tế và tạo ra môi trường chăm sóc y tế an toàn cho cả người bệnh và nhân viên y tế. SINH BỆNH HỌC 2. Cơ chế truyền bệnh Lây truyền những tác nhân nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh đòi hỏi 3 yếu tố: Nguồn bệnh (hoặc nguồn dự trữ) các bệnh nguyên nhiễm trùng, cá thể nhạy cảm, cổng vào và đường lây truyền vi sinh vật (Hình 2. Trong 3 yếu tố này, đường lây truyền là yếu tố dễ kiểm soát nhất.

Kiểm soát được đường lây truyền sẽ phòng ngừa được sự lây truyền bệnh. Số lượng Độc lực của Đường lây truyền Cổng vào Cá thể VSV nhạy cảm Hình 2. 1: Sơ đồ chuỗi lây truyền bệnh (Nguồn: Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, NXB Y học, 2011, Lê Thị Anh Thư) 2. Các đường lây truyền 2.

Lây truyền qua tiếp xúc Lây truyền qua tiếp xúc có thể trực tiếp hoặc gián tiếp. Lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp xảy ra do sự tiếp xúc trực tiếp giữa các bề mặt cơ thể và truyền vi sinh vật từ người bệnh này qua người bệnh khác hay từ nhân viên y tế. Lây truyền qua tiếp xúc gián tiếp xảy ra do sự tiếp xúc giữa chủ thể nhạy cảm với một vật thể trung gian bị nhiễm. Bệnh lây truyền qua đường này thường do cộng sinh hay nhiễm trùng những vi sinh vật đa kháng, các nhiễm trùng da và đường ruột như MRSA, Herpes Simplex, chốc, ghẻ, chấy rận, đậu mùa, zona, nhiễm cúm (kể cả H5N1), SARS.

Những trẻ em dưới 6 tuổi thường dễ bị lây truyền virus đường ruột, viêm gan A qua đường này. Lây truyền qua giọt bắn 22 Lây truyền qua giọt bắn: xảy ra do những bệnh nguyên lây truyền qua những giọt phân tử hô hấp lớn (>5m) tạo ra trong trong quá trình ho, hắt hơi, nói chuyện hoặc trong một số thủ thuật như hút rửa, nội soi. Sự lây truyền qua giọt bắn cần sự tiếp xúc gần giữa người bệnh và người nhận bởi vì những giọt bắn chứa vi sinh vật xuất phát từ người mang vi sinh vật thường chỉ di chuyển một khoảng ngắn trong không khí (< 1 mét) và đi vào kết mạc mắt, niêm mạc mũi, miệng của người kế cận. Các bệnh nguyên thường gặp lây theo đường này bao gồm viêm phổi, ho gà, bạch hầu, cúm (kể cả H5N1), SARS, quai bị và viêm màng não.

Lây truyền qua không khí Lây truyền qua không khí xảy ra do sự lây lan những giọt nước bốc hơi trong không khí chứa tác nhân nhiễm khuẩn có kích thước phân tử nhỏ hơn (<5m) phát sinh ra khi bệnh nhân ho, hay hắt hơi. Vi sinh vật lan truyền theo cách này có thể phân tán rộng trong dòng không khí, có thể lơ lửng trong không khí lưu chuyển trong môt thời gian dài. Vì thế chúng có thể bị hít vào hoặc tích tụ lại ở những vật chủ nhạy cảm trong cùng một căn phòng hoặc có thể phân tán đi đến một khoảng cách xa hơn tùy thuộc vào các yếu tố môi trường. Những vi sinh vật truyền bằng đường khí như lao phổi, rubeola, thủy đậu.

H5N1 và SARS cũng có thể lây qua đường này khi thực hiện các thủ thuật có tạo khí dung. Việc xử lý không khí và thông khí là cần thiết để ngăn ngừa sự truyền bệnh. Phơi nhiễm với các bệnh nguyên đường máu Phơi nhiễm với các bệnh nguyên đường máu xảy ra do kim hoặc do các vật bén bị vấy máu/dịch tiết người bệnh đâm phải hoặc do mắt, mũi, miệng, da không lành lặn tiếp xúc với máu/dịch tiết của người bệnh. Ngòai ra, máu, chất tiết, và dịch tiết còn có thể từ môi trường bị vấy máu, dịch tiết, chất tiết truyền qua niêm mạc, da không lành lặn vào người bệnh.

Tuy nhiên, đa số các phơi nhiễm không dẫn đến mắc bệnh. Nguy cơ nhiễm nhiều hay ít phụ thuộc các yếu tố : - Tác nhân gây bệnh: Phơi nhiễm với HBV có nguy cơ nhiễm bệnh hơn HCV hoặc HIV. - Loại phơi nhiễm: Phơi nhiễm với máu có nguy cơ hơn với nước bọt. - Số lượng máu gây phơi nhiễm: Kim rỗng lòng chứa nhiều máu hơn kim khâu hoặc lancet.

- Đường phơi nhiễm: phơi nhiễm qua da nguy cơ hơn quan niêm mạc hay da không lành lặn. - Số lượng virus trong máu người bệnh vào thời điểm phơi nhiễm. - Điều trị dự phòng sau tiếp xúc sẽ làm giảm nguy cơ. Theo môt nghiên cứu đa quốc gia, nguy cơ mắc bệnh khi bị kim đâm hay vết đứt từ nguồn người bệnh có VGSV B có cả hai kháng nguyên bề mặt HBsAg và kháng nguyên e (HBeAg) là 22-31%, từ nguồn máu chỉ có HBsAg đơn thuần là 1-6% (Bảng 2.1), từ nguồn VGSV C là 1.8% (khoảng: 0%-7%), từ nguồn nhiễm HIV là 0.

1: Nguy cơ nhiễm HBV cho NVYT (Nguồn: Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, NXB Y học, 2011, Lê Thị Anh Thư) Kim tiêm Viêm gan Nhiễm HBV về mặt có chứa lâm sàng huyết thanh học HBsAg+ 1-6% 23-37% HBeAg + 22-31% 37-62% 2. Các chất của cơ thể có thể truyền tác nhân gây bệnh qua đường máu Các chất của cơ thể có thể truyền tác nhân gây bệnh qua đường máu bao gồm: - Tất cả máu và sản phẩm của máu - Tất cả các chất tiết nhìn thấy máu - Dịch âm đạo - Tinh dịch - Dịch màng phổi - Dịch màng tim - Dịch não tuỷ - Dịch màng bụng - Dịch màng khớp - Nước ối Những lọai dịch tiết được xem hiếm khi là nguyên nhân lây truyền các bệnh nguyên đường máu bao gồm: - Sữa người - Nước mắt, nước bọt mà không thấy rõ máu trong nước bọt - Nước tiểu không có máu, hoặc phân 3. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA CHUẨN 3. Vệ sinh tay Vệ sinh tay là nội dung cơ bản của Phòng ngừa chuẩn và là biện pháp hiệu quả nhất trong nỗ lực kiểm soát sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế.

Cơ sở y tế phải đảm bảo có nước sạch, có đủ các phương tiện rửa tay và có sẵn các dung dịch sát khuẩn tay nhanh có chứa cồn ở những nơi thăm khám, chăm sóc người bệnh. - Trong chăm sóc người bệnh, tránh sờ vào bề mặt các vật dụng, trang thiết bị khi không cần thiết để phòng lây nhiễm tay từ môi trường hoặc lây nhiễm cho môi trường do tay bẩn. - Thực hiện quy trình rửa tay thường quy theo đúng hướng dẫn rửa tay của Bộ Y Tế + Thực hiện vệ sinh tay với nước và xà phòng theo đúng quy trình khi tay nhìn thấy vấy bẩn bằng mắt thường hoặc sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết. 24 + Sát khuẩn tay bằng dung dịch sát khuẩn tay nhanh có chứa cồn theo đúng quy trình, khi tay không thấy bẩn bằng mắt thường.

- Năm thời điểm vệ sinh tay khi chăm sóc người bệnh theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới: + Trước khi tiếp xúc với người bệnh. + Trước khi thực hiện các thao tác vô khuẩn. + Sau khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể, các chất bài tiết. + Sau khi tiếp xúc với người bệnh.

+ Sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh người bệnh .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

<strong>Giáo trình Kiểm soát nhiễm khuẩn lưu hành nội bộ - Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch</strong> là tài liệu học tập và tra cứu chuyên sâu dành cho sinh viên y khoa, điều dưỡng cùng cán bộ y tế. Giáo trình hệ thống hóa toàn diện các nguyên tắc vô khuẩn, kỹ thuật khử khuẩn, tiệt khuẩn cũng như quy trình phòng ngừa lây nhiễm chéo tại cơ sở y tế. Việc nắm vững kiến thức này giúp người đọc nâng cao năng lực chuyên môn lâm sàng, giảm thiểu tối đa tai biến y khoa và bảo đảm an toàn người bệnh. Để đánh giá sâu hơn việc ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn lâm sàng, bạn đọc có thể tham khảo thêm các nghiên cứu về <strong>tuân thủ kiểm soát nhiễm khuẩn</strong> tại bệnh viện tuyến đầu. Bên cạnh đó, việc tìm hiểu các mô hình cùng <strong>hiệu quả can thiệp kiểm soát nhiễm khuẩn</strong> sẽ mang lại góc nhìn toàn diện cho công tác quản lý chất lượng y tế.