CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT CHI VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1. Tổng quan kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 1. Khái niệm, đặc điểm, các loại và nguyên tắc chi ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm: Chi NSNN là việc Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế- xã hội dựa trên các nguyên tắc nhất định.
Đặc điểm Chi NSNN có 3 đặc điểm chính: Chi NSNN luôn gắn chặt với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội Chi NSNN được thế hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu quả về mặt xã hội và chính trị, ngoại giao. Xét về mặt tính chất, phần lớn các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp mà mang tính bao cấp. * Các loại chi NSNN: Luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam quy định, chi NSNN bao gồm các loại sau: - Chi đầu tư phát triển: Là nhiệm vụ chi của NSNN gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Chi đầu tư phát triển gồm: + Chi đầu tư xây dựng cơ bản cho các dự án theo các lĩnh vực.
+ Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng; các tổ chức kinh tế; các tổ chức tài chính của trung ương và địa phương; đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. + Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật. Trong các khoản chi đầu tư phát triển, chi xây dựng cơ bản là khoản chi chiếm tỷ trọng chủ yếu, và được giải ngân đều đặn trong các năm. Hai khoản chi còn lại trong chi đầu tư phát triển là các khoản chi không đáng kể và có tính chất phát sinh.
Chính vì vậy, 3 trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài về chi đầu tư qua ngân sách Nhà nước của huyện, tác giả tiếp cận chủ yếu đối với khoản chi đầu tư xây dựng bàn trên địa bàn huyện. - Chi dự trữ quốc gia: Là nhiệm vụ chi của NSNN để mua hàng dự trữ theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia. - Chi thường xuyên: Là nhiệm vụ chi của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước để phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Chi thường xuyên cho các lĩnh vực sau: + Quốc phòng; + An ninh và trật tự, an toàn xã hội; + Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề; + Sự nghiệp khoa học và công nghệ; + Sự nghiệp y tế, dân số và gia đình; + Sự nghiệp văn hóa thông tin; + Sự nghiệp phát thanh, truyền hình, thông tấn; + Sự nghiệp thể dục thể thao; + Sự nghiệp bảo vệ môi trường; + Các hoạt động kinh tế; + Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam; hỗ trợ hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; + Chi đảm bảo xã hội, bảo gồm cả chi hỗ trợ thực hiện các chính sách xã hội theo quy định của pháp luật; + Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật - Chi trả nợ: Là nhiệm vụ chi của NSNN để trả các khoản nợ đến hạn phải trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác phát sinh từ việc vay.
+ Chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các Chính phủ, tổ chức ngoài nước. + Chi cho vay theo quy định của pháp luật. + Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính. 4 + Chi chuyển nguồn từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau.
+ Chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Nguyên tắc chi NSNN Các khoản chi NSNN chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao và phải đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Ngân sách nhà nước các cấp, đơn vị dự toán ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách không được thực hiện nhiệm vụ chi khi chưa có nguồn tài chính, dự toán chi ngân sách làm phát sinh nợ khối lượng xây dựng cơ bản, nợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ chi thường xuyên. Khái niệm, nguồn vốn và nguyên tắc quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước qua KBNN Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 tại Điều 3, khái niệm đầu tư được hiểu như sau: “ Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư” 1.
Khái niệm Chi đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư. Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác. Như vậy, đầu tư XDCB là việc bỏ vốn để đầu tư tái sản xuất tài sản cố định nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất, phục vụ của nền kinh tế quốc dân.
Thông qua đầu tư XDCB, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất, phục vụ của nền kinh tế được tăng cường, đổi mới, hoàn thiện, hiện đại hoá; góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế, thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. 5 Theo Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH 13 do Quốc hội ban hành đã chỉ rõ: Chi đầu tư XDCB là nhiệm vụ chi của NSNN để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cầu hạ tầng kinh tế- xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế- xã hội. Chi đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất, củng cố xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội của nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Quản lý chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là quản lý quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ ngân sách nhà nước để đầu tư tái sản xuất tài sản cố định nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ cho nền kinh tế quốc dân đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn.
Những phân tích nên trên cho phép rút ra kết luận:“Chi đầu tư XDCB của NSNN cấp huyện là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ NSNN cấp huyện để đầu tư tái sản xuất tài sản cố định nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất, phục vụ đáp ứng yêu cầu thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước về bảo đảm an ninh quốc phòng, quản lý nhà nước và phát triển KTXH trên địa bàn huyện trong từng thời kỳ”. Chi đầu tư và hỗ trợ Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng; các tổ chức kinh tế; các tổ chức tài chính của trung ương và địa phương; đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Việc sử dụng nguồn vốn Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội không nhằm mục đích kinh doanh như: Chương trình mục tiêu, dự án phát triển, kinh tế, xã hội, môi trường, các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục, đào tạo. Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.
6 Đầu tư của khu vực Nhà nước không thể có hiệu quả kinh tế thuần túy cao như đầu tư của khu vực tư nhân, bởi vì trong nhiều trường hợp mục đích của đầu tư công không phải nhằm vào lợi nhuận và hiệu quả kinh tế. Ngay cả phần lớn doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tuy có mục tiêu chính là sản xuất kinh doanh có lãi, nhưng vẫn còn phải thực hiện một số mục tiêu phi lợi nhuận như tạo điều kiện phát triển cho các vùng sâu, vùng xa, miền núi có điều kiện khó khăn, sản xuất và cung ứng các hàng hóa công cộng, các sản phẩm và dịch vụ ít lãi, thậm chí lỗ vốn. Nhưng không phải vì vậy mà có thể biện minh cho việc đầu tư kém hiệu quả kéo dài của khu vực nhà nước do những nguyên nhân chủ quan như chiến lược kinh doanh và đầu tư sai lầm, quản lý kém, thiếu trách nhiệm, lãng phí, tham nhũng. Các Doanh nghiệp được Nhà nước hỗ trợ thông qua các chính sách ưu đãi về vốn đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà Nước.
Các DN được ưu tiên tiếp cận vốn tín dụng.