đặt vấn đề khác nhau ở mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, bảo trợ xã hội gần với khái niệm trợ giúp xã hội, là một trong ba trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh. Với mục đích khắc phục rủi ro, trợ giúp xã hội cùng với bảo hiểm xã hội có chức năng giảm thiểu rủi ro, và chính sách thị trường lao động chủ động nhằm phòng ngừa rủi ro cho người dân (Vũ Văn Phúc, 2011). Trợ giúp xã hội còn được xem như “phao cứu sinh” nhằm hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội không bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng hóa (Mai Ngọc Cường, 2013).
Như vậy ở Việt Nam bảo trợ xã hội có nội hàm hẹp hơn so với an sinh xã hội và được triển khai dưới hình thức trợ cấp xã hội trên 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực tế. Từ điển thuật ngữ an sinh xã hội của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội không có thuật ngữ “bảo trợ xã hội” mà chỉ có khái niệm “trợ giúp xã hội” (social assistance) là “sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của nhà nước (lấy từ nguồn thuế, không phải đóng góp từ người dân) nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho đối tượng được nhận (Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2011). Mặc dù các tổ chức phát triển quốc tế đều sử dụng định nghĩa riêng về bảo trợ xã hội song tất cả đều nhấn mạnh bản chất của bảo trợ xã hội thông qua các can thiệp chính sách cần thiết của nhà nước và các hoạt động tình nguyện ở cộng đồng. Lấy ví dụ, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh vào việc kiềm chế nguy cơ gây tổn thương, làm mất nguồn sinh kế.
Trong khi đó, Tổ chức Lao động quốc tế lại hướng vào khả năng duy trì mức sống thông qua việc làm như một quyền của người lao động, đặc biệt trong khu vực phi chính thức. Ngân hàng Phát triển Châu Á lại chú trọng đến tính dễ tổn thương của người dân khi gặp rủi ro nếu không có sự bảo trợ xã hội. Nhưng cho dù theo định nghĩa nào, các tổ chức quốc tế đều thống nhất trong cách tiếp cận coi bảo trợ xã hội như một biện pháp kiềm chế nguy cơ bị tổn thương, duy trì được thu nhập, sinh kế, tránh rơi vào đói nghèo. Mục đích của bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo thu nhập và các điều kiện sống thiết yếu đối với các trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ sức lo liệu được cuộc sống.
Đối với Việt Nam, bảo trợ xã hội như một lưới an toàn (safety-net) nhằm bảo đảm sự an toàn về đời sống của người dân khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro và tự bản thân không khắc phục được. Các hoạt động cứu trợ xã hội, giảm nghèo nhằm hạn chế nguy cơ dễ bị tổn thương ở những đối tượng yếu thế, mất nguồn thu nhập và sinh kế, và không có điều kiện tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản. Quan điểm hiện đại về bảo trợ xã hội xem xét sự trợ giúp dưới ba hình thức: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp xã hội và dịch vụ xã hội. Trong bài luận văn này, bảo trợ xã hội là những giải pháp, sáng kiến nhằm đem lại thu nhập và dịch vụ cơ bản cho các cá nhân và nhóm yếu thế, bảo vệ họ khỏi các nguy cơ đe dọa sinh kế, đói nghèo, giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương, thúc đẩy công bằng xã hội 2.
Vai trò của bảo trợ xã hội Ngay từ khi ra đời cho đến nay, an sinh xã hội nói chung và bảo trợ xã hội nói riêng đã được đón nhận như một sự đảm bảo cho cuộc sống và đặc biệt có ý nghĩa đối với một bộ phận thành viên xã hội, bộ phận người yếu thế. Là sự bảo 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vệ phổ cập và đồng nhất đối với mọi thành viên xã hội trên cơ sở sự tương trợ cộng đồng, chia sẻ rủi ro, bảo trợ xã hội là hoạt động mang đậm tính nhân đạo và có vai trò vô cùng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, cụ thể: - Bảo trợ xã hội góp phần đảm bảo công bằng xã hội: Bảo trợ xã hội là một giá trị cơ bản và có tính định hướng trong việc thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của những bộ phận dân cư và mọi thành viên xã hội thông qua mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ phù hợp với khả năng thực hiện của những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. - Dưới góc độ chính trị xã hội và nhân văn, BTXH không chỉ là thái độ, là biện pháp hỗ trợ tích cực của xã hội đối với mỗi thành viên của mình khi gặp rủi ro, khó khăn mà còn giảm thiểu những bất ổn trong xã hội, góp phần duy trì ổn định xã hội trong đó có ổn định về chính trị. Sỡ dĩ, có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc xuất phát từ chỗ nền tảng của trợ cấp xã hội là sự hợp tác, tương trợ cộng đồng giữa các thành viên xã hội trước bất hạnh, rủi ro của mỗi cá nhân.
Hoạt động bảo trợ xã hội mang tính nhân đạo, thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Thực hiện mục đích xã hội vì cồng đồng, không vì lợi nhuận. Theo đó, những khó khăn bất hạnh này được cả cộng đồng gánh vác, sẻ chia mà không đòi hỏi một nghĩa vụ nào về tài chính từ phía đối tượng. Ở đây không có sự phân biệt về đối tượng hưởng cũng như chủ thể thực hiện mà hơn thế nữa lại là yếu tố tạo nên sự hòa đồng giữa các thành viên xã hội không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị kinh tế.
Có thể nói, bảo trợ xã hội là hình thức tương trợ cộng đồng phổ biến nhất, thể hiện tính nhân văn sâu sắc của mỗi cá nhân và có sức hút hấp dẫn trước các giá trị nhân bản của con người. Ngày nay, bảo trợ xã hội không còn là vấn đề chính trị, xã hội của mỗi quốc gia mà đã trở thành vấn đề có tính quốc tế. Việc thực hiện bảo trợ xã hội không bị giới hạn bởi bất kỳ rào cản chính trị hay địa lý nào, nó có ý nghĩa toàn cầu vì một thế giới hòa bình,ổn định và phát triển hơn. - Dưới góc độ của người thụ hưởng, BTXH được xem như là nguồn tài chính đảm bảo cho họ có cuộc sống tối thiểu trong xã hội, giúp họ từng bước khắc phục được những khó khăn, hòa nhập cộng đồng.
Đồng thời là nguồn an ủi rất lớn về mặt tinh thần đối với nhóm đối tượng chịu thiệt thòi trong cuộc sống. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Dưới góc độ kinh tế, BTXH không vì mục đích kinh doanh nhưng lại có ý nghĩa là công cụ phân phối lại tiền bạc, của cải và vật chất. Chính sách bảo trợ xã hội giúp điều hòa lại thu nhập của những tầng lớp khác nhau trong xã hội nhằm thực hiện sự công bằng trong xã hội, giảm bớt sự chênh lệch giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập dưới mức tối thiểu. - Dưới góc độ pháp luật, BTXH là một định chế quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội, điều chỉnh việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho nhóm đối tượng có vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may trong cuộc sống như người bình thường khác và không đủ khả năng tự lo liệu.
Vai trò pháp luật của bảo trợ xã hội xuất phát từ quyền cơ bản của con người. Mỗi con người sống trong xã hội đều có quyền được sống, được bình đẳng, được yêu thương, đùm bọc, bảo vệ khỏi những biến cố bất lợi, đặc biệt là khi sự sống bị đe dọa. Ở nước ta, quyền bảo trợ đã được ghi nhận trong Hiến pháp (2013) (Điều 67) và nhiều văn bản pháp lý khác. Điều đó cho thấy bảo trợ xã hội không chỉ đơn thuần là hoạt động tự phát mang tính nhân đạo của cộng đồng mà dưới góc độ pháp luật, nó đã được thể chế hóa thành chế định của hệ thống pháp luật an sinh xã hội quốc gia.
Cũng từ đó, giúp chúng ta nhận thức được rằng bảo trợ xã hội không phải là sự ban ơn, sự chiếu cố của xã hội đối với những thân phận thấp hèn, những người cùng cực, mà là quyền của mỗi thành viên trong xã hội, là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả cộng đồng. - Đối với xã hội, BTXH là một biện pháp của chính sách xã hội, một trong những chỉ báo quan trọng về định hướng XHCN ở nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường mà đối tượng của nó là những người gặp rủi ro, bất trắc trong cuộc sống. Các vấn đề chung về kiểm soát chi trả kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội 2. Các khái niệm Theo Trường Đại học Ngoại Thương (2016), kiểm soát là chức năng quan trọng của nhà quản lý nhằm thu thập thông tin về các quá trình, hiện tượng đang diễn ra trong một tổ chức.
Tính chất quan trọng của kiểm soát được thể hiện ở cả hai mặt. Một mặt, kiểm soát là công cụ quan trọng để nhà quản lý phát hiện ra những sai sót và có biện pháp điều chỉnh. Mặt khác, thông qua kiểm soát, các hoạt động sẽ được thực hiện tốt hơn và giảm bớt được sai sót có thể nảy sinh. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thường người ta chỉ nhấn mạnh đến ý nghĩa thứ nhất (phát hiện sai sót) của kiểm soát vì cho rằng mọi hoạt động đều không tránh khỏi sai sót và kiểm soát là bước cuối cùng để hạn chế tình trạng này.
Điều đó đúng, nhưng chưa đủ, vì trong thực tế, kiểm soát có tác động rất mạnh đến các hoạt động. Một công việc, nếu không có kiểm soát sẽ chắc chắc nảy ra nhiều sai sót hơn nếu được theo dõi, giám sát thường xuyên. Điều đó khẳng định rằng kiểm soát không chỉ là giai đoạn cuối cùng trong quá trình hoạt động của hệ thống hoặc là khâu sau cùng của chu trình quản lý (từ lập kế hoạch đến tổ chức lãnh đạo). Kiểm tra cũng không phải là hoạt động đan xen mà là một quá trình liên tục về thời gian và bao quát về không gian.
Nó là yếu tố thường trực của nhà quản lý ở mọi lúc, mọi nơi.