Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỰ KIỂM SOÁT CẢM XÚC CỦA SINH VIÊN 1. Những nghiên cứu về cảm xúc 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Có thể thấy, nghiên cứu cảm xúc của con người từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm tìm hiểu với nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Tựu trung lại có những hướng tiếp cận cơ bản như sau: - Hướng tiếp cận theo nguồn gốc sinh học - tiến hóa Với hướng tiếp cận này, có thể hiểu rằng yếu tố sinh học chính là yếu tố nảy sinh đầu tiên trong cảm xúc.
Theo đó, cảm xúc không thể xảy ra khi thiếu các yếu tố sinh học. Đại diện cho hướng tiếp cận theo nguồn gốc sinh học có thể kể đến những tác giả tiêu biểu như Darwin, Paul Ekman, Carroll Izard, MC. Freud, William James, Walter Cannon, T. Fesher và Russell… Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến thành phần sinh học trong cảm xúc như chức năng thích nghi, sự biểu hiện cảm xúc trên nét mặt, các biểu hiện về mặt cơ thể… Darwin và các học trò của ông như Paul Ekman, Carroll Izard xem cảm xúc như là khả năng thích nghi của con người trong việc giải quyết các nhiệm vụ cơ bản của cuộc sống và họ đã nỗ lực lớn trong việc chứng minh những biểu hiện cảm xúc trên nét mặt con người là mang tính phổ quát.
Thực tế, họ cũng nhận thấy các yếu tố như nhận thức, xã hội, văn hóa góp phần trong các trải nghiệm cảm xúc, song họ khẳng định rằng yếu tố sinh học mới nhân tố cơ bản tạo nên cảm xúc của con người. Dougall coi cảm xúc là những cái được di truyền. Freud cho rằng cảm xúc chính là sự giải tỏa những năng lượng libido bị dồn nén. Walter Cannon (1927) cho rằng cảm xúc xuất phát từ hệ thần kinh trung ương, khi đem tách các cơ quan nội tạng ra khỏi hệ thần kinh trung ương sẽ không làm biến đổi hành vi cảm xúc.
Fesher và Russell (2003) nhận định cảm xúc là thứ mà tất cả mọi người đều biết nhưng không thể định nghĩa được, chỉ cảm nhận được cảm xúc chứ không nghĩ ra nó. Khi nghe một lời nói hay 9 chứng kiến một hành động có ý nghĩa với bản thân, các cảm xúc của chúng ta lập tức xuất hiện, những thay đổi về mặt sinh lý xuất hiện và nảy sinh cảm giác thôi thúc muốn làm điều gì đó. William James (1884) cho rằng cảm xúc là hệ quả cũng những thay đổi sinh lý trong cơ thể con người. Dưới tác động của kích thích bên ngoài, các thay đổi của cơ thể đặc trưng cho một loại cảm xúc diễn ra và sau đó cảm xúc xuất hiện như là một hệ quả.
Hiện tượng cảm xúc là sự phản ứng đối với những biến đổi sinh lý bên trong cơ thể hay biến đổi nội tạng. Như vậy, cảm xúc được hình thành trên cảm giác cơ thể chứ không phải do tình huống, không thể có cảm xúc mà thiếu sự thay đổi cơ thể và sự thay đổi cơ thể luôn là đầu tiên. Những thay đổi này phát sinh như một sự đáp ứng với những việc xảy ra trong môi trường sống. Ông cho rằng những cảm xúc như là sự thích nghi môi trường với chức năng quan trọng liên quan đến sự sống.
Chúng ta cảm thấy buồn vì chúng ta khóc, chúng ta cảm thấy sợ hãi vì chúng ta bỏ chạy. Ông khẳng định nếu cơ thể không rung động thì không có cảm xúc mà chỉ có ý tưởng. - Hướng tiếp cận nhận thức Với hướng tiếp cận này, có thể hiểu rằng hoạt động nhận thức là điều kiện tiên quyết để nảy sinh cảm xúc; nếu thiếu quá trình nhận thức thì cảm xúc sẽ không xuất hiện (Reeve, 2009). Cảm xúc nảy sinh từ sự nhận thức về các sự kiện quan trọng liên quan đến con người.
Trong thực tế, khi tiếp cận nghiên cứu về cảm xúc, đây là cách tiếp cận phổ biến hơn cả. Đại diện cho hướng tiếp cận nhận thức có thể kể đến những tác giả tiêu biểu như Richard Lazarus, Klaus Scherer. Theo Lazaruz (1991), cảm xúc nảy sinh phụ thuộc vào hai nhận định cơ bản. Một là, nhận thức về những cái có liên quan đến tình trạng khỏe mạnh của con người, dựa trên 3 yếu tố cơ bản: mục tiêu liên quan, mục tiêu phù hợp và các đặc điểm của cá nhân trong các sự kiện.
Trước một sự kiện xảy ra, nếu cá nhân đánh giá rằng sự kiện đó có liên quan đến mục tiêu của bản thân thì cảm xúc sẽ xuất hiện, còn nếu không liên quan thì cảm xúc sẽ không xảy ra; nếu sự kiện xảy ra phù hợp với mục tiêu, có lợi cho cá nhân thì các cảm xúc dương tính xuất hiện, còn nếu không phù hợp, có hại hoặc đe dọa đến cá nhân thì xuất hiện các cảm xúc âm tính; cảm xúc nảy sinh còn phụ thuộc vào sự đánh giá đặc điểm cá nhân 10 như lòng tự trọng và được tôn trọng, giá trị đạo đức, cái tôi lý tưởng, trạng thái khỏe mạnh, mục tiêu cuộc sống… Hai là, nhận thức khả năng ứng phó với các sự kiện [59]. - Hướng tiếp cận Tâm lý học hoạt động Đây là hướng tiếp cận phổ biến ở Việt Nam. Theo Tâm lý học hoạt động, tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não thông qua chủ thể, là chức năng của não và mang bản chất xã hội - lịch sử. Như vậy, dựa vào lý luận về bản chất hiện tượng tâm lý người, các nhà Tâm lý học đã quan niệm cảm xúc là sự rung động của con người nảy sinh trong quá trình tác động tương hỗ với môi trường xung quanh và trong quá trình thỏa mãn nhu cầu của mình (Ruđich, 1986) hay “là thái độ mà con người trực tiếp thể nghiệm đối với hiện thực xung quanh và đối với bản thân”.
Rubinstein, mọi quá trình cảm xúc chỉ có thể hiểu được nhờ quan hệ của chúng với hoàn cảnh đặc biệt gắn liền giữa động cơ, nhu cầu cá nhân và luôn thay đổi trong sự biến đổi của hoàn cảnh xã hội. Cảm xúc của con người xét về nguồn gốc, chức năng hay sự biểu hiện luôn mang tính xã hội. Như vậy, cảm xúc là một hiện tượng tâm lý, là sự rung cảm của chủ thể đối với môi trường xung quanh, là trạng thái tinh thần của chủ thể trong mối quan hệ với đối tượng [29]. Cảm xúc của đối tượng là học sinh - sinh viên thường được nghiên cứu gắn với những hoạt động đặc thù của lứa tuổi học sinh - sinh viên (hoạt động học tập, rèn luyện và quan hệ xã hội).
Những công trình nghiên cứu về cảm xúc của đối tượng là học sinh - sinh viên chủ yếu theo hướng tiếp cận những cảm xúc tiêu cực, mối quan hệ ảnh hưởng của cảm xúc đến hoạt động học tập và lồng ghép trong những nghiên cứu về khó khăn học tập, kỹ năng học tập, hứng thú học tập hay động cơ học tập của học sinh - sinh viên. Theo đó, cảm xúc được nghiên cứu chủ yếu là cảm xúc tiêu cực, trong đó cảm xúc lo âu và tác động của nó đến hoạt động học tập của học sinh được tập trung nghiên cứu nhiều. Những nghiên cứu khoa học về sự lo sợ trong các kỳ thi do Richard Alpert thực hiện vào những năm 1960 khẳng định rằng những học sinh bị sự lo lắng gây tác hại tới kết quả học tập và những người thành công bất chấp 11 sự căng thẳng, thậm chí nhờ sự căng thẳng mà thành công hơn [10, tr. Trong công trình nghiên cứu về sự căng thẳng, nguyên nhân và cách ứng phó của học sinh trung học phổ thông của D.
Boskin và cộng sự năm 2000, nguyên nhân gây lo âu chủ yếu xuất phát trong quá trình làm bài kiểm tra, làm bài tập ở nhà, điểm số và những kỳ vọng thành tích học tập cao [45]. Nghiên cứu của Byrne, Davenport và Masanov năm 2007 bổ sung thêm yếu tố tương tác với giáo viên cũng như sự cân bằng thời gian giải trí và học tập ở trường [40]. Nghiên cứu của Burnett & Fanshawe năm 1997 về thang đo các nguyên nhân gây căng thẳng tại trường học của học sinh chỉ ra các nguyên nhân cơ bản như phương pháp giảng dạy không phù hợp, mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, khối lượng nội dung học quá tải, điều kiện học tập nghèo nàn và việc sắp xếp thời gian học bất hợp lý [39]. Những nghiên cứu của Mortlock (1984), Irvine và Wilson (1994), Priest và Gass (2005) xem lo âu là yếu tố giúp tích cực hóa hoạt động học tập [64], [56], [66].
Nghiên cứu của Buchanan và Lovallo (2001) về tác dụng của chất liệu cảm xúc đối với trí nhớ cho thấy lo âu ở mức độ thấp sẽ giúp nhớ tốt hơn khi học tập [38]. Tuy nhiên, nếu lo âu ở mức độ cao, có thể làm suy yếu chức năng nhận thức (Nghiên cứu của Kirschbaum và cộng sự, 1996) [57]. Lo âu là dấu hiệu của hoạt động học tập kém (Seiip, 1991; Snow và Swanson, 1992; Warr và Bunce, 1995) [68] [69] [72]. Nghiên cứu được công bố năm 1979 của Eysenck về trí nhớ, sự học và sự lo âu đã nhận định: Khi con người lo lắng, suy nghĩ tiêu cực sẽ xuất hiện như suy nghĩ về sự thất bại, cảm thấy tự ti… Theo đó, con người gặp khó khăn trong nhận thức, dễ dẫn đến thất bại trong học tập [46].
Nghiên cứu của hai tác giả Xinyin Chen (Trường Đại học Tây Ontario, Canada) và Bo-hu-li (Trường Đại học sư phạm Thượng Hải, Trung Quốc) về tâm trạng thất vọng ở trẻ Trung Quốc được công bố vào năm 2000. Nghiên cứu đã khẳng định tâm trạng thất vọng của trẻ Trung Quốc có ý nghĩa thật sự quan trọng đối với việc thích ứng môi trường trường học và xã hội, là cảm xúc âm tính và có tác động tiêu cực đến kết quả học tập [73]. Năm 2002, Gail Gumora and F. William công bố nghiên cứu của nhóm về 12 tính đa cảm, sự điều chỉnh cảm xúc và thành tích học tập của học sinh trung học.
Nghiên cứu đã chỉ ra các khuynh hướng cảm xúc khác nhau, nhất là những cảm xúc âm tính nảy sinh trong quá trình học tập tại trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thành tích học tập của học sinh chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất không phải là mục tiêu học tập hay các mối quan hệ mà là các yếu tố cảm xúc – xã hội [52]. Cũng vào năm 2002, trong một nghiên cứu định tính và định lượng về những cảm xúc học tập trong quá trình học hỏi tự điều chỉnh bản thân của học sinh - sinh viên, R.