CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm giai đoạn điều tra Trong khoa học pháp luật hình sự, đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm giai đoạn điều tra. Có quan điểm cho rằng “Điều tra là công tác trong TTHS được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ”; có ý kiến khác lại cho rằng: “Điều tra là một giai đoạn của quá trình TTHS, trong đó CQĐT áp dụng các biện pháp do Luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội”.
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam năm 2005 thì điều tra được hiểu là hoạt động thu thập chứng cứ, tài liệu, tình hình… phản ánh sự thật về một tổ chức, con người, sự việc, hiện tượng hoặc mục tiêu, địa bàn, lĩnh vực thuộc phạm vi nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự. Điều tra do Cơ quan Công an tiến hành có thể dưới hai hình thức: Điều tra công khai do CQĐT hoặc một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành công khai theo quy định của luật TTHS. Điều tra bí mật (điều tra trinh sát) do lực lượng trinh sát tiến hành, thường diễn ra trước khi khởi tố vụ án hình sự, phải tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà các văn bản của ngành Công an quy định. Mỗi hình thức điều tra có sự khác nhau cơ bản về chủ thể, thời hạn, hình thức cũng như trình tự, thủ tục, thẩm quyền điều tra [7].
Như vậy, từ những phân tích trên, có thể tiếp cận khái niệm về điều tra vụ án hình sự như sau: Điều tra vụ án hình sự là hoạt động của CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS, dưới sự kiểm sát của VKS, tiến hành các biện pháp tố tụng cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, làm rõ các tình tiết của vụ án hình sự. Theo pháp luật TTHS Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế, việc giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn TTHS có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn mà phân định chức năng cụ thể của mỗi cơ quan có thẩm quyền riêng biệt nhằm thực hiện nhiệm vụ do 6 pháp luật quy định. Pháp luật TTHS Việt Nam chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành các giai đoạn gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử vụ án hình sự và giai đoạn thi hành bản án hình sự. Đối với các hoạt động xét xử phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm không được xem là các giai đoạn TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mà hoạt động đó là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại những vụ án hình sự đã xét xử có kháng cáo, kháng nghị.
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá trình TTHS được BLTTHS năm 2015 quy định ở Phần thứ hai, từ chương X đến chương XVII. Giai đoạn điều tra được xác định bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cùng với Bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố cho VKS. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định thì vụ án bị đình chỉ điều tra và tất nhiên các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra đối với vụ án đó sẽ chấm dứt, nên trong trường hợp vụ án bị đình chỉ điều tra thì cũng được coi là thời điểm chấm dứt điều tra vụ án hình sự. Khoảng thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra được BLTTHS quy định khá cụ thể, được phân loại thời hạn điều tra căn cứ vào tính chất nguy hiểm của tội phạm.
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là rất quan trọng đối với việc giải quyết vụ án hình sự, kết quả của giai đoạn này là để phục vụ cho việc truy tố của VKS và hoạt động xét xử của Tòa án. Từ đó, đòi hỏi Cơ quan có thẩm quyền điều tra cùng với VKS phải vận dụng mọi biện pháp tố tụng được BLTTHS quy định để thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án hình sự, chứng minh tội phạm và người thực hiện tội phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án hình sự, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cơ quan hữu quan có liên quan thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm. Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là: Một giai đoạn trong TTHS trong đó CQĐT và một số cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các biện pháp điều tra do BLTTHS quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. Đồng thời, thông qua hoạt động điều tra, xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị với 7 các cơ quan hữu quan có biện pháp phòng ngừa tội phạm.
Đặc điểm của giai đoạn điều tra Từ những nội dung phân tích khái niệm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự ở trên, có thể đưa ra những đặc điểm cơ bản và đặc trưng của giai đoạn điều tra vụ án hình sự như sau: Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, có thời hạn được xác định từ lúc vụ án được khởi tố bằng Quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng cho đến khi CQĐT kết thúc điều tra vụ án, ban hành Bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố, chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho VKS; hoặc CQĐT ra quyết định đình chỉ vụ án. Thứ hai, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp điều tra do BLTTHS quy định để chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm rõ các tình tiết khác liên quan đến toàn bộ nội dung vụ án bao gồm các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, các tình tiết buộc tội, gỡ tội, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị các cơ quan hữu quan trong công tác phòng ngừa tội phạm. Thứ ba, chủ thể thực hiện các biện pháp điều tra trong giai đoạn điều tra này bao gồm CQĐT; cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và cả VKS trong một số trường hợp luật định. Các tài liệu do chính hoạt động của các chủ thể nói trên tiến hành thu thập theo đúng trình tự, thủ tục quy định trong BLTTHS mới được coi là chứng cứ làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thứ tư, các biện pháp điều tra nhằm phục vụ công tác điều tra được áp dụng trong giai đoạn điều tra này được quy định cụ thể từ chương XI đến chương XVI của BLTTHS năm 2015. Các biện pháp đó là: Hỏi cung bị can; lấy lời khai những người tham gia tố tụng khác; đối chất và nhận dạng; khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra; giám định và định giá tài sản; các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt như: Ghi âm, ghi hình bí mật, nghe điện thoại bí mật, thu thập bí mật dữ liệu điện tử. Việc thực hiện các hoạt động này đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định trong BLTTHS. Khái quát về kiểm sát điều tra vụ án hình sự 1.
Khái niệm công tác kiểm sát điều tra 8 Trên cơ sở kế thừa và đổi mới thể chế, Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục khẳng định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND là THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp. Để làm rõ khái niệm công tác KSĐT, cần phải làm rõ chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS và đây là chức năng chung của VKS trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Tại Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định như sau: “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật” Từ quy định trên đây, chúng ta cần tiếp tục làm rõ việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra của VKS. Có thể hiểu cơ bản, với chức năng, nhiệm vụ được Hiến pháp quy định, KSĐT là một trong số các nhiệm vụ của VKS thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.
Điều này có nghĩa là hoạt động điều tra là hoạt động tư pháp, CQĐT là cơ quan tư pháp, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, ĐTV là các chức danh tư pháp và mọi hoạt động theo pháp luật TTHS của cơ quan và các chức danh này phải chịu sự kiểm sát của VKS. Bản chất của hoạt động này là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động TTHS được thực hiện bởi CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm đảm bảo các tài liệu, chứng cứ buộc tội đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và chống oan sai. Đối tượng của công tác KSĐT chính là hành vi xử sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng và các văn bản tố tụng có trong hồ sơ vụ án ở giai đoạn điều tra.