CHƯƠNG 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XÉT XỬ TRỰC TUYẾN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÉT XỬ TRỰC TUYẾN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.Khái niệm về xét xử trực tuyến trong tố tụng hình sự Về mặt lý luận, có 4 loại vi phạm pháp luật là vi phạm dân sự, vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật và vi phạm hình sự. Trong đó, vi phạm hình sự là hành vi trái pháp luật được quy định trong pháp luật hình sự, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại những quan hệ xã hội quan trọng nhất, theo quy định của pháp luật phải bị xử lý hình sự1. Vi phạm hình sự là loại vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm và gây hậu quả nặng nề nhất.
Theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, một người có hành vi vi phạm pháp luật nói chung hay vi phạm hình sự nói riêng được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.2 Theo quy trình trình tự tố tụng đó, xét xử là thủ tục không thể thiếu, trong đó, phiên tòa là hình thức hoạt động xét xử của Tòa án. Thông thường các vụ án được đưa ra xét xử công khai, trực tiếp tại phiên tòa, đồng thời, xét xử trực tuyến là một hình thức đã xuất hiện trong pháp luật của nhiều quốc gia. Trong thời đại công nghệ số các nước có nền khoa học công nghệ phát triển đã chú trọng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tư pháp. Từ cung cấp dịch vụ hành chính tư pháp trực tuyến; tống đạt điện tử; cung cấp, tiếp nhận chứng cứ điện tử, trực tuyến… đến xét xử trực tuyến đều được các quốc gia này thực hiện một cách thường xuyên và dần thay thế hoạt động tố tụng truyền thống.
Để hiểu xét xử trực tuyến là gì cần hiểu xét xử là gì. Theo từ điển Luật học, xét xử “là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các tòa án. Các tòa án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử. Mọi bản án do các tòa án tuyên đều phải qua xét xử.
Không một ai có thể bị buộc tội mà không 1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Chủ biên Nguyễn Minh Đoan, Nguyễn Văn Năm; Nguyễn Văn Động, tr.427 2 Điều 31 Hiến pháp 2013 7 qua xét xử của các tòa án và kết quả xét xử phải được công bố bằng bản án. Phân theo nội dung xét xử có: xét xử tội phạm hình sự, xét xử tranh chấp dân sự, xét xử khiếu kiện hành chính, xét xử tranh chấp lao động. Phân theo cấp độ xét xử có: xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm, xét xử giám đốc thẩm, xét xử tái thẩm. Khi xét xử các tòa án phải tuân theo các nguyên tắc: thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định; tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số”3.
Theo đó, phiên tòa xét xử trực tuyến được hiểu là phiên tòa được tổ chức tại phòng xử án, có sử dụng các thiết bị điện tử kết nối với nhau thông qua môi trường mạng, cho phép bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại địa điểm ngoài phòng xử án do Tòa án quyết định nhưng vẫn bảo đảm trực tiếp theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tòa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai, vào cùng một thời điểm 4. Ở Hàn Quốc, theo Quy tắc xử lý nghiệp vụ xét xử trực tuyến số 1753, có hiệu lực từ ngày 22/7/2020, “Xét xử trực tuyến là việc tiến hành xét xử mà một phần hoặc toàn bộ các bên liên quan trong vụ án không trực tiếp đến phòng xét xử mà tham gia phiên tòa tại địa điểm từ xa được trang bị thiết bị truyền dẫn đồng thời tín hiệu hình ảnh và âm thanh cùng lúc”5. Theo hướng dẫn của Tòa án tối cao bang Victoria (Australia), “xét xử trực tuyến được hiểu là phiên xét xử được tổ chức bởi các phương tiện nghe nhìn mà không cần sự có mặt trực tiếp của người tham dự”6. Khái niệm này tuy có sự diễn đạt ngắn gọn nhưng nội hàm của nó cũng khá tương đồng với khái niệm xét xử trực tuyến trong pháp luật Hàn Quốc mà tác giả đã phân tích ở trên.
3 Từ điển Luật học, NXB.Đại học Bách Khoa, NXB.576 4 Nguyễn Thị Hồng Anh, Nguyễn Vũ Trang Nhung, Tô Hoàng Yến Nhi, Xét xử trực tuyến: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam https://tapchitoaan.vn/bai-viet/nghien-cuu/xet-xu-truc-tuyen-kinh-nghiem-quoc- te-va-bai-hoc-cho-viet-nam5907.html, 22/6/2022 5 Theo Tòa án nhân dân tối cao, Hồ sơ trình Dự thảo Nghị quyết về tổ chức phiên tòa trực tuyến, Phụ lục số 03: Tài liệu tham khảo về Tòa án điện tử của Hàn Quốc 6 Nguyên văn tiếng Anh: A virtual hearing is a court hearing conducted by audio-visual means, where cases are progressed without the need for participants to attend the Court in person, https://www.au/law-and-practice/virtual-hearings/virtual-hearings-glossary 26/06/2022 8 Theo TS. Hoàng Minh Đức và Ths Nguyễn Phan Trung Anh, “Xét xử trực tuyến là phương thức xét xử gồm một chuỗi quy trình và thiết bị thực hiện công tác xét xử trong đó những người tham gia phiên tòa có thể giao tiếp với nhau qua mạng (không cần phải có mặt tại phòng xử án). Xét xử trực tuyến sử dụng kết nối mạng để thực hiện công tác xét xử. Mọi hoạt động như xem xét chứng cứ, tài liệu, xét hỏi, tranh luận.
đều được thực hiện trực tuyến qua thiết bị kết nối mạng (thường là máy tính) với một máy chủ có lưu giữ sẵn toàn bộ tài liệu và phần mềm cần thiết để thực hiện công tác xét xử”7. Theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 33/2021/QH15 của Quốc hội ngày 21/11/2021 đã đưa ra khái niệm về phiên Tòa trực tuyến: “Phiên tòa trực tuyến là phiên tòa được tổ chức tại phòng xử án, có sử dụng các thiết bị điện tử kết nối với nhau thông qua môi trường mạng, cho phép bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại địa điểm ngoài phòng xử án do Tòa án quyết định nhưng vẫn đảm bảo trực tiếp theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tòa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai vào cùng một thời điểm”. Khái niệm này được xây dựng dựa trên các dấu hiệu đặc trưng sau đây: Một là, phiên tòa trực tuyến về bản chất là một phiên tòa được tổ chức tại phòng xử án của Tòa án. Phiên tòa này có thể có nhiều điểm cầu, nhưng điểm cầu trung tâm được tổ chức tại phòng xử án của Tòa án.
Điều này có ý nghĩa quan trọng đảm bảo tính quyền uy, sự tôn nghiêm trọng hoạt động xét xử của Tòa án. Hai là, phiên tòa trực tuyến cho phép bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại địa điểm ngoài phòng xử án do Tòa án quyết định. Đây là đặc điểm để phân biệt phiên tòa xét xử trực tuyến với phiên tòa xét xử trực tiếp. Việc xét xử trực tuyến được hiểu là một phần hoặc toàn bộ các bên liên quan trong vụ án không trực tiếp đến phòng xét xử mà tham gia phiên tòa tại các địa điểm từ xa do Tòa án quyết định.
Đây là đặc điểm khác biệt để phân biệt xét xử trực tuyến với xét xử trực tiếp. Theo đó, việc xét xử trực tiếp thì các bên liên quan phải có mặt 7 Hoàng Minh Đức, Nguyễn Phan Trung Anh, “Quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về xét xử trực tuyến và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Xét xử trực tuyến Vụ án hình sự những vấn đề lý luận và kinh nghiệm của các nước. 9 trực tiếp tại phiên tòa. Sự có mặt của các bên liên quan tại phiên tòa là cơ sở để Tòa án tiến hành hoạt động xét xử hợp pháp, nếu có người vắng mặt tại phiên tòa có thể dẫn đến việc Tòa án phải hoãn phiên tòa.
Ba là, phiên tòa có sử dụng các thiết bị điện tử kết nối với nhau thông qua môi trường mạng để những người tham gia tố tụng tại địa điểm khác (không phải phòng xử án) vẫn trực tiếp theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tòa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai vào cùng một thời điểm. Qua các khái niệm trên, có thể nhận thấy khái niệm về xét xử trực tuyến trong văn bản trên đã tương đối hoàn thiện. Khái niệm về xét xử trực tuyến đã được xây dựng dựa trên các đặc điểm trực trưng của nó. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy, trong khái niệm này còn chưa xác định rõ chủ thể tổ chức phiên tòa là ai? Tác giả cho rằng, hoạt động xét xử hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi Tòa án có thẩm quyền, vì vậy, trong khái niệm về hoạt động này cần dựa trên dấu hiệu về mặt chủ thể tiến hành hoạt động.
Mặt khác, tác giả cho rằng khái niệm này sử dụng thuật ngữ “trực tiếp” trong đoạn “…cho phép bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại địa điểm ngoài phòng xử án do Tòa án quyết định nhưng vẫn đảm bảo trực tiếp theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tòa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai vào cùng một thời điểm” là chưa phù hợp. Bởi vì, theo từ điển tiếng Việt, “trực tiếp được hiểu là tiếp xúc thẳng, không qua khâu trung gian”8. Ở đây rõ ràng là những chủ thể tham gia tố tụng tại địa điểm ngoài phòng xử án do Tòa án quyết định không có sự tiếp xúc “trực tiếp” mà phải qua sự kết nối của các phương tiện kỹ thuật nên việc sử dụng từ “trực tiếp theo dõi …và tham gia các thủ trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tòa” như trong khái niệm trên là chưa phù hợp.