Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2001–2005, tổng sản phẩm nội tỉnh (GDP) của tỉnh Hải Dương duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân ấn tượng đạt 10,8%/năm và tiếp tục bứt phá lên mức 11,2% trong giai đoạn 2006–2007. Toàn tỉnh ghi nhận 2.974 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tính đến ngày 01/01/2007, trong đó hơn 90% là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) với quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc sử dụng dưới 300 lao động. Tuy nhiên, thời điểm Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 11/2006 với tư cách thành viên thứ 150 đã tạo ra bước ngoặt lớn: các hàng rào thuế quan bảo hộ sản xuất trong nước dần bị gỡ bỏ theo lộ trình cam kết quốc tế. Khối DNNVV tại Hải Dương rơi vào tình thế chịu sức ép cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa ngoại nhập có chất lượng cao và giá thành tối ưu. Khảo sát thực tế cho thấy hơn 90% số dự án đầu tư công nghiệp năm 2007 tại địa phương vẫn nhập khẩu công nghệ giá rẻ từ Trung Quốc, trong khi 74,5% doanh nghiệp chưa đạt các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9000 hay ISO 14000.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là tìm ra cơ chế tối ưu hóa công cụ thuế nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thiếu hụt vốn đầu tư, qua đó kích thích các DNNVV chủ động đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ cơ sở lý thuyết, phân tích thực trạng năng lực công nghệ và hiệu quả của các chính sách thuế trên địa bàn Hải Dương giai đoạn 2003–2007, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp tài chính - thuế có tính khả thi cao. Nghiên cứu mang ý nghĩa thiết thực trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu công nghiệp nội tỉnh, nâng tỷ trọng công nghiệp chế biến từ 71,2% năm 2003 lên 81,2% năm 2007, đồng thời gia tăng nguồn thu ngân sách nhà nước từ khối DNNVV vượt mốc 22,487 tỷ đồng của năm 2003.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn dựa trên lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter (1990) gồm 3 giai đoạn phát triển: định hướng theo đầu vào (tận dụng lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên), định hướng theo đầu tư (nâng cao năng lực sản xuất quy mô) và định hướng theo đổi mới (tạo giá trị khác biệt bằng công nghệ vượt trội). Cùng với đó, nghiên cứu tích hợp mô hình 4 thành phần công nghệ của Nawar Sharif (1986) và Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Châu Á - Thái Bình Dương (APCTT) bao gồm: phần kỹ thuật (vật thể), phần thông tin, phần con người và phần thiết chế tổ chức.

Về mặt thuật ngữ và pháp lý, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được chuẩn hóa theo Điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ, xác định là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lao động thường xuyên hàng năm dưới 300 người. Đổi mới công nghệ được hiểu là quá trình thương mại hóa thành công các phát minh, sáng chế hoặc cải tiến quy trình nhằm gia tăng năng suất và hiệu quả kinh doanh. Hệ thống lý luận về công cụ thuế được phân định rõ thành thuế trực thu (thuế thu nhập doanh nghiệp) và thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng), đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thông qua 4 hình thức chính: miễn thuế, giảm thuế, ưu đãi thuế suất và hoàn thuế nhằm chia sẻ rủi ro nghiên cứu và phát triển (R&D) với doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai trên cỡ mẫu gồm 50 doanh nghiệp nhỏ và vừa đại diện cho tất cả các thành phần kinh tế phân bổ tại 12 huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh Hải Dương, kết hợp điều tra sâu 18 doanh nghiệp điển hình. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu phi xác suất, tập trung vào 5 ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh: cơ khí, vật liệu xây dựng, may mặc, da giầy và chế biến nông sản thực phẩm. Bộ dữ liệu khảo sát địa phương được đặt trong mối tương quan so sánh với dữ liệu điều tra quy mô quốc gia gồm 7.580 doanh nghiệp công nghiệp do Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2005.

Luận văn áp dụng phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh chuỗi dữ liệu thứ cấp thu thập từ Cục Thuế tỉnh Hải Dương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ trong mốc thời gian từ năm 2003 đến năm 2007. Đồng thời, tác giả kết hợp phỏng vấn sâu các nhà quản lý chuyên trách và đại diện hiệp hội doanh nghiệp. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan mối quan hệ tác động qua lại giữa các chính sách thuế hiện hành với quyết định phân bổ ngân sách đầu tư công nghệ của doanh nghiệp, bảo đảm tính xác thực và tính ứng dụng thực tiễn của các khuyến nghị chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nội lực tài chính của khối DNNVV trên địa bàn tỉnh Hải Dương còn rất nhỏ bé. Trong tổng số 2.974 doanh nghiệp đăng ký đến đầu năm 2007, có tới 90% là DNNVV và 94% tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp có mức vốn hoạt động dưới 5 tỷ đồng. Số lượng doanh nghiệp có vốn từ 5 tỷ đến 10 tỷ đồng chỉ chiếm khoảng 1.300 cơ sở, khiến khả năng tự tích lũy vốn để đầu tư mua sắm dây chuyền công nghệ hiện đại bị hạn chế nghiêm trọng.

Thứ hai, trình độ thiết bị công nghệ lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào các yếu tố ngoại nhập. Kết quả điều tra thực tế tại 53 doanh nghiệp công nghiệp Hải Dương cho thấy có 66% doanh nghiệp phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, 60% phụ thuộc bán thành phẩm và 55,1% phụ thuộc vào kỹ thuật nước ngoài. Trong năm 2007, trên 90% trong tổng số 42 dự án đầu tư được cơ quan chức năng thẩm định đã nhập khẩu máy móc, thiết bị giá rẻ từ Trung Quốc. Tỷ lệ lao động trực tiếp vận hành trên các dây chuyền tự động hóa và cơ giới hóa của các doanh nghiệp chỉ đạt mức dưới 50%.

Thứ ba, nguồn lực dành cho R&D và chuẩn hóa quản lý chất lượng ở mức rất thấp. Khi đối chiếu với số liệu toàn quốc từ 7.580 doanh nghiệp, chỉ có 185 đơn vị (chiếm 2,44%) có kinh phí đầu tư cho R&D với tổng số tiền 193,7 tỷ đồng, tương đương mức 0,003% tổng doanh thu. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 7,24% tổng số nhân sự. Tại Hải Dương, có tới 74,5% doanh nghiệp chưa từng triển khai hệ thống quản trị chất lượng ISO 9000 hoặc tiêu chuẩn môi trường ISO 14000.

Thứ tư, công cụ thuế chưa thực sự phát huy vai trò đòn bẩy kinh tế thúc đẩy đổi mới công nghệ. Mặc dù số doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế tăng từ 775 doanh nghiệp năm 2003 lên 1.678 doanh nghiệp năm 2007, nhưng các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho đầu tư chiều sâu và khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với máy móc công nghệ cao vẫn chưa tiếp cận được phần lớn các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ do rào cản thủ tục phức tạp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân trực tiếp của thực trạng trên là do chính sách thuế thời kỳ 2003–2007 chủ yếu chú trọng vào chức năng huy động nguồn thu tài chính cho ngân sách nhà nước, chưa đặt trọng tâm vào việc nuôi dưỡng nguồn thu thông qua khuyến khích R&D. Quy định về trích lập quỹ khoa học công nghệ từ thu nhập trước thuế chưa thông thoáng, cùng với chế độ khấu hao tài sản cố định nhanh còn thiếu linh hoạt đã cản trở doanh nghiệp mạnh dạn thay thế máy móc cũ.

Phát hiện này hoàn toàn củng cố các luận điểm trong nghiên cứu của Trần Ngọc Ca (2000) và Nguyễn Minh Hạnh (2001) về việc chính sách tài chính - thuế tại Việt Nam chưa tạo đủ động lực trực tiếp cho các cơ sở sản xuất tư nhân. Để theo dõi trực quan các chỉ số này, dữ liệu chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp (công nghiệp chế biến tăng từ 71,2% năm 2003 lên 81,2% năm 2007, công nghiệp khai thác giảm từ 2,4% xuống 1%) có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường thể hiện kim ngạch xuất khẩu địa phương tăng trưởng từ 77,42 triệu USD lên 335,565 triệu USD, qua đó làm rõ yêu cầu cấp bách phải hiện đại hóa công nghệ chế biến nhằm nâng cao giá trị hàng hóa xuất khẩu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm biến công cụ thuế thành đòn bẩy kích thích đổi mới công nghệ cho các DNNVV tại Hải Dương trong quá trình hội nhập kinh tế, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp: Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế cần ban hành quy định cho phép các DNNVV được trích lập từ 10% đến 15% thu nhập chịu thuế trước khi nộp thuế để hình thành Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tại doanh nghiệp. Áp dụng mức thuế suất ưu đãi từ 15% đến 20% trong thời hạn từ 3 đến 5 năm đối với các doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư chiều sâu hoặc tiếp nhận chuyển giao công nghệ cao. Mục tiêu đến năm 2012 nâng tỷ lệ DNNVV đổi mới công nghệ từ dưới 5% lên mức 25% đến 30%.

Thứ hai, tối ưu hóa chính sách thuế giá trị gia tăng: Quốc hội và Bộ Tài chính cần xem xét áp dụng mức thuế suất 0% hoặc tạm miễn thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu đối với các dây chuyền máy móc, thiết bị kiểm tra đo lường tiên tiến mà trong nước chưa chế tạo được. Giải pháp này giúp cắt giảm ngay 5% đến 10% chi phí đầu tư ban đầu, rút ngắn thời gian thu hồi vốn cho doanh nghiệp trong giai đoạn 2009–2015.

Thứ ba, cải cách triệt để thủ tục hành chính thuế: Cục Thuế tỉnh Hải Dương cần đơn giản hóa quy trình xác nhận chi phí nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật hợp lý, giảm 50% thời gian xét duyệt hồ sơ miễn giảm và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với tài sản cố định đầu tư mới, bảo đảm 100% hồ sơ được giải quyết trong thời hạn tối đa 15 ngày làm việc. Định kỳ tổ chức tập huấn chính sách ưu đãi thuế công nghệ cho kế toán trưởng của 100% DNNVV trên địa bàn.

Thứ tư, thiết lập cơ chế tài chính hỗ trợ công nghệ cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương cùng Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính cần trích từ 3% đến 5% nguồn thu thuế công nghiệp hàng năm để lập Quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ tỉnh Hải Dương, thực hiện hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng thương mại cho tối thiểu 100 DNNVV mỗi năm khi đầu tư đổi mới thiết bị đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo mang giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Cục Thuế tỉnh Hải Dương, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư. Sử dụng kết quả nghiên cứu để thiết kế các chính sách ưu đãi thuế thực chất, hoàn thiện biểu thuế suất và xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp địa phương.

Thứ hai, ban lãnh đạo doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng các hiệp hội doanh nghiệp: Giám đốc điều hành, kế toán trưởng tại các doanh nghiệp dệt may, cơ khí, vật liệu xây dựng, chế biến nông sản tại Hải Dương. Tài liệu giúp nhận diện rõ quyền lợi ưu đãi thuế, nắm bắt phương thức trích lập quỹ R&D hợp pháp và tối ưu hóa phương án đầu tư máy móc mới.

Thứ ba, cộng đồng học thuật và nghiên cứu khoa học: Giảng viên, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý Kinh tế, Chính sách công và Tài chính doanh nghiệp. Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên khảo và nguồn số liệu thực chứng đáng tin cậy.

Thứ tư, các tổ chức tư vấn chuyển giao công nghệ và định chế tài chính: Các trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, quỹ đầu tư phát triển, ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng cho DNNVV trong việc xây dựng gói hỗ trợ tài chính gắn liền với ưu đãi thuế cho các dự án công nghệ.

Câu hỏi thường gặp

Công cụ thuế tác động như thế nào đến quyết định đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa? Thuế tác động trực tiếp vào lợi nhuận sau thuế và dòng tiền tái đầu tư của doanh nghiệp qua 4 hình thức: miễn thuế, giảm thuế, ưu đãi thuế suất và hoàn thuế. Khi được ưu đãi giảm 10% đến 15% thuế thu nhập doanh nghiệp cho hoạt động R&D, doanh nghiệp sẽ giảm thiểu rủi ro tài chính, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập.

Tại sao phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hải Dương giai đoạn 2003–2007 lại chọn công nghệ giá rẻ từ Trung Quốc? Do 94% cơ sở công nghiệp tại tỉnh có mức vốn dưới 5 tỷ đồng và gặp khó khăn khi tiếp cận vốn tín dụng dài hạn. Máy móc từ các nước phát triển có chi phí rất cao và đòi hỏi nhân lực trình độ cao (vốn chỉ chiếm 7,24%), nên việc trên 90% dự án chọn thiết bị Trung Quốc giá rẻ là giải pháp tình thế nhằm thu hồi vốn nhanh.

Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa trong luận văn được căn cứ vào văn bản pháp lý nào? Nghiên cứu căn cứ chuẩn xác theo Điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký theo pháp luật, có mức vốn đăng ký không vượt quá 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động bình quân hàng năm không quá 300 người.

Doanh nghiệp có thể trích lập quỹ phát triển khoa học công nghệ từ nguồn nào và tỷ lệ bao nhiêu? Theo định hướng giải pháp của luận văn, doanh nghiệp được phép trích từ 10% đến 15% thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trước khi tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, phục vụ trực tiếp cho việc đổi mới máy móc, mua bí quyết kỹ thuật và đào tạo nhân lực.

Chính sách thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa xuất khẩu mang lại lợi thế gì cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ? Thuế giá trị gia tăng áp dụng mức thuế suất 0% cho hàng xuất khẩu và cho phép hoàn lại toàn bộ thuế đầu vào của tài sản, nguyên liệu. Chính sách này giúp doanh nghiệp Hải Dương gia tăng kim ngạch xuất khẩu từ 77,42 triệu USD năm 2003 lên 335,565 triệu USD năm 2007, tạo nguồn ngoại tệ tái đầu tư công nghệ mới.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng công nghệ của khối DNNVV tại Hải Dương giai đoạn 2003–2007, chỉ rõ thực trạng 90% là DNNVV nhưng 74,5% chưa đạt chuẩn quản lý ISO 9000/14000.
  • Khẳng định vai trò thiết yếu của công cụ thuế trong việc bù đắp rủi ro và kích thích doanh nghiệp tư nhân chuyển đổi mô hình sản xuất sang chiều sâu.
  • Nhận diện các nút thắt chính sách khiến tỷ lệ chi cho R&D toàn quốc chỉ đạt 0,003% doanh thu và hơn 90% dự án địa phương phải nhập thiết bị giá rẻ từ Trung Quốc.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp tài khóa: hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi thuế giá trị gia tăng máy móc nhập khẩu, cải cách thủ tục thuế và lập Quỹ hỗ trợ công nghệ tỉnh.
  • Cung cấp cơ sở khoa học thực chứng phục vụ quá trình tái cơ cấu kinh tế công nghiệp tỉnh Hải Dương vững bước sau khi Việt Nam gia nhập WTO.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan ban ngành và doanh nghiệp cần hoàn thành rà soát chính sách trong giai đoạn 2009–2010, thí điểm trích lập quỹ R&D tại 50 DNNVV và nhân rộng toàn tỉnh đến năm 2015. Các nhà quản lý, hiệp hội ngành nghề và lãnh đạo doanh nghiệp hãy chủ động phối hợp hành động ngay hôm nay nhằm đưa các giải pháp thuế vào thực tiễn, tạo động lực bứt phá công nghệ cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.