Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa a.
Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, trong đó hoạt động của các doanh nghiệp nhằm mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm lợi nhuận để tồn tại và phát triển. Trong thực tế có nhiều khái niệm hay định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp, tùy thuộc vào những quan niệm hay cách nhìn khác nhau về vai trò, vị trí hay chức năng của doanh nghiệp trong xã hội. Tuy nhiên ta có một khái niệm chung nhất về doanh nghiệp như sau: Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh [13]. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu đơn giản nhất là quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ và vừa.
Tiêu chí quy mô sản xuất kinh doanh được cụ thể hóa bởi các chỉ tiêu thống kê xác định, ví dụ dựa vào số lao động trong doanh nghiệp nông, lâm thủy sản: doanh nghiệp nhỏ có số lao động từ 10 người đến dưới 200 người, doanh nghiệp vừa có số lao động từ 200 người đến dưới 300 người. Theo điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa, thì Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 vốn là tiêu chí ưu tiên) [Error! Reference source not found.], cụ thể như sau: Bảng 1. Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Tổng Số lao động nguồn Số lao động Số lao động nguồn vốn Khu vực vốn I. Nông, lâm 20 tỷ Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người nghiệp và đồng trở người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống thủy sản xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người 20 tỷ Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 II.Công nghiệp 10 người trở đồng trở người đến tỷ đồng đến người đến và xây dựng xuống xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người 10 tỷ Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 III.
Thương mại 10 người trở đồng trở người đến 50 tỷ đồng đến người đến và dịch vụ xuống xuống người 50 tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009) c. Khái niệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong kinh tế học, tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế (GDP) hay sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP/người) qua một thời gian nhất định. Phát triển kinh tế được hiểu là một quá trình vận động đi lên, thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền knh tế, đặc biệt là cải thiện sức khỏe, giáo dục và những khía cạnh khác về phúc lợi của con người. Trong thực tế thuật ngữ “tăng trưởng kinh tế” và thuật ngữ “phát triển kinh tế” đôi khi sử dụng thay cho nhau, nhưng về cơ bản thì chúng khác nhau.
Phát triển kinh tế có nội dung phản ánh rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 như tăng trưởng kinh tế chỉ sự gia tăng về mặt lượng thì phát triển kinh tế còn phản ánh về mặt chất. Xuất phát trừ những lý luận trên ta có thể đưa ra khái niệm phát triển DNNVV như sau: Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là sự tăng lên về số lượng và nâng cao về chất lượng; đồng thời, tăng sự đóng góp cho xã hội của các DNNVV. Đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Nhóm nhân tố này là những nhân tố phản ánh năng lực bên trong của doanh nghiệp, bao gồm nhân tố vốn, lao động, công nghệ, năng lực của chủ doanh nghiệp và các nhân tố văn hóa kinh doanh, tinh thần kinh doanh, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp,… a.
Về vốn kinh doanh Vốn là nhân tố, là nguồn lực quan trọng đối với sự ra đời và phát triển DNNVV ở Việt Nam. Nguồn vốn đối với các DNNVV chủ yếu là vốn tự có và vốn vay từ ngân hàng, bạn bè, người thân trong gia đình… Thiếu vốn và khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn chính thức là hiện tượng thường gặp đối với các DNNVV ở Việt Nam. Trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, sự canh tranh ngày càng khốc liệt thì đòi hỏi nhu cầu về vốn cũng khác trước. Các DNVVN cần có lượng vốn đủ lớn để đầu tư công nghệ, đổi mới thiết bị máy móc tiên tiến phù hợp vào sản xuất kinh doanh, nhằm thay thế lao động thủ công, nâng cao năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu trong nước và thế giới.
Như vậy, nhân tố vốn và sử dụng vốn có hiệu quả là yếu tố quyết định ra đời và phát triển của DNNVV ở Việt Nam. Về công nghệ Trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất trong các DNNVV là nhân tố ảnh hương trực tiếp đến năng xuất lao động, chất lương sản phẩm, năng lực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và quyết định đến sư tồn tại của doanh nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, các DNNVV muốn tồn tại và phát triển, mở rông thị trường trong nước và thế giới thì không thể không đổi mới trang thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ cao vào sản xuất.Về tổ chức quản lý doanh nghiệp và người lao động Đa số các DNNVV của nước ta hiện nay vẫn tổ chức theo mô hình quản lý "gia đình". Đặc biệt mô hình này thể hiện rõ nhất với các DNNVV ở thành phần kinh tế ngoài quốc doanh: Các doanh nghiệp tư nhân, công ty THHH, công ty cổ phần,.
Những người quản lý cũng như lao động trong các doanh nghiệp này là những người trong cùng gia đình, hoặc cùng huyết thống hay là những người thân quen. Về trình độ của cán bộ quản lý doanh nghiệp thì phần lớn các DNNVV ngoài quốc doanh chủ doanh nghiệp và cán bộ quản lý đều chua được đào tạo cơ bản, thiếu kinh nghiệm quản trị và kiến thức kinh doanh trong cơ chế thị trường. Về lao động làm việc trong các doanh nghiệp là lao động phổ thông ít được đào tạo, thiếu kỹ năng, trình độ văn hóa thấp, hoặc chỉ được đào tạo qua các lớp ngắn hạn tại các doanh nghiệp,… Bên cạnh đó các doanh nghiệp thường sử dung lao động theo hình thức thời vụ hoặc hợp đồng gia công với các hộ dân cư. Số liệu điều tra về trình độ của người lao động trong các DNNVV trên cả nước cho thấy: chỉ có 15% lao động có trình độ đại học trong đó chỉ tập trung vào DNNN, Công ty TNHH va công ty cổ phần.
Về hình thức sở hữu DNNVV có cả hình thức sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp nhưng phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc động là DNNVV. Vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế Việt Nam Vai trò của các DNNVV thể hiện ở một số mặt sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp. - Thu hút vốn đầu tư trong dân cư và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tại địa phương. - Góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường. - Hình thành đội ngũ doanh nhân năng động. - Tạo việc làm cho người lao động và tăng thu nhập của dân cư. Nội dung và tiêu chí phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Muốn phát triển DNNVV ta cần phát triển các yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp đó là yếu tổ đầu vào và yếu tố đầu ra, mà cụ thể là: Yếu tố đầu vào của phát triển DNNVV là phát triển về số lượng doanh nghiệp hay nói cách khác là sự gia tăng về số lượng các doanh nghiệp.
Đồng thời phát triển quy mô của doanh nghiệp thông qua việc gia tăng các yếu tố nguồn lực như: Vốn, lao động, trình độ công nghệ, máy móc thiết bị,… Thông qua việc phát triển yếu tố đầu vào nhằm gia tăng kết quả đầu ra. Yếu tố đầu ra của phát triển DNNVV là sự gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng tích lũy trong doanh nghiệp, mở rộng thị trường, gia tăng tính liên kết giữa các doanh nghiệp, gia tăng sự đóng góp cho xã hội của Doanh nghiệp như GDP, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động. Phát triển số lượng doanh nghiệp Phát triển số lượng doanh nghiệp nghĩa là gia tăng số lượng doanh nghiệp trong nền kinh tế, nói cách khác là làm gia tăng số lượng tuyệt đối của các DNNVV; làm gia tăng số lượng các doanh nghiệp tại các địa phương, hoạt động trong các ngành nghề. Có thế khẳng định tiêu chí phát triển doanh nghiệp là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá phát triển DNNVV.
Tuy nhiên, để đánh giá sát, đúng việc phát triển số lượng DNNVV LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thì đòi hỏi chúng ta phải phản ánh được số lượng doanh nghiệp đang hoạt động, chứ không phải số lượng doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh. Để các doanh nghiệp phát triển đòi hỏi nhà nước, các cơ quan chức năng có các chính sách nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư cũng như tạo điều kiện thuận lợi để thành lập mới doanh nghiệp và gia nhập thị trường. Tiêu chí để đánh giá sự gia tăng số lượng doanh nghiệp: - Số lượng doanh nghiệp hoạt động qua các năm. - Số lượng doanh nghiệp gia tăng qua các năm, tốc độ gia tăng.
- Số lượng doanh nghiệp gia tăng theo ngành, lĩnh vực qua từng năm; tốc độ phát triển của doanh nghiệp theo ngành, lĩnh vực.