Mở đầu Chương 2: Tổng quan Chương 3: Vật liệu và phương pháp Chương 4: Kết quả và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 3 n CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Giới thiệu chung về cây Dương đầu (Olax imbricata) 2.1 Nguồn gốc Mặc dù hiện nay có nhiều phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường khác nhau như liệu pháp insulin, dùng dược phẩm, liệu pháp ăn kiêng.nhưng việc điều trị bằng thực vật vẫn rất thành công và được sử dụng trên khắp thế giới và đã có từ thời Ebers, khoảng 1550 trước Công nguyên (Kooti và cộng sự 2016; Pushparaj và cộng sự 2000). Hầu hết các thành phần thực vật có độc tính không đáng kể và không có tác dụng phụ; có nhiều thử nghiệm đã chứng minh lợi ích của chúng trong việc giúp hạ đường huyết, kiểm soát bệnh đái tháo đường, giúp tăng tuổi thọ, tăng chất lượng cuộc sống ở những bệnh nhân này (Kooti và cộng sự 2016). Nhiều loại thảo dược có chứa các hoạt chất có hiệu quả trong ngăn ngừa/điều trị đái tháo đường như flavonoid, tannin, phenolic và alkaloid giúp cải thiện hoạt động các mô tuyến tụy bằng cách tăng tiết insulin hoặc giảm hấp thu glucose ở ruột (Kooti và cộng sự 2016; Mamun-or-Rashid và cộng sự 2014). Cây Dương đầu tên khoa học Olax imbricata Roxb là loại thực vật thuộc họ Dương đầu Olacaceae, thuộc chi Olax.
Olax, chi lớn nhất của Olacaceae với khoảng 40 loài. Phân bố ở các khu rừng nhiệt đới châu Á như: Việt Nam, Thái Lan, Myanmar, Malaysia.ngoài ra còn được tìm thấy ở các nước thuộc châu Phi, Nam Á và Châu Úc (Vo và cộng sự 2019). Tại Việt Nam, cây Dương đầu được trồng chủ yếu ở tỉnh Phú Yên. Cây Dương đầu dài 3-8m, lá xếp thành hai dãy đối nhau so le, lá có phiến hình bầu dục tròn dài 7-10cm không lông và cuống dài 6-8mm.
Hoa trắng dài 1cm và mọc thành chùm nhỏ khoảng 3-7 bông ở đầu cành hoặc kẽ lá, hoa có 1 bầu nhụy, 2 thùy, chỉ nhị ngắn. Quả hạch hình cầu, bao bởi đài hoa, cây ra hoa từ tháng 4 đến tháng 10.2 Thành phần hóa học Theo một nghiên cứu trước, các tác giả đã phân lập thành công hai hợp chất phenolic, ba hợp chất glycoside phenolic (Vo và cộng sự 2018). Bên cạnh đó, từ rễ cây Olax imbricata còn có 3 hợp chất béo được phân lập bao gồm (E)-henicos-7-en-9-ynoic acid, (E)-henicos- 7-en-9-ynoylglycerol (hoặc 2,3-dihydroxypropyl (E)-henicos-7-en-9-ynoate) và 6,7,8,9- tetrahydroxyhexadeca-4,10-diynoic acid. Cũng ở một nghiên cứu khác, các tác giả cũng phân lập thành công 3 hợp chất triterpenoid glycosides, cụ thể là 3-O-α-L-rhamnopyranosyl- (1→4)-β-D-glucopyranosyl-(1→3)-6′-O-ethyl-β-D-glucuronyl oleanolic acid, oleanolic 4 n acid 28-O-β-D-glucopyranoside và spergulacin (Vo và cộng sự 2019).
Nhóm tác giả nói trên cũng đã phân lập và làm sáng tỏ một sesquiterpenoid tropolone và các dẫn xuất 1,2,3,4- tetrahydronaphthalene (Nguyen và cộng sự 2019). Thành phần hóa học của rễ cây Dương đầu Chú thích: 1. (E)-henicos-7-en-9-ynoic acid; 2. 6,7,8,9-tetrahydroxyhexadeca-4,10-diynoic acid (Vo và cộng sự 2018) 2.3 Công dụng Cây Dương đầu có hoạt tính kháng khuẩn, chống oxy hóa và chống viêm, được xem là một trong những cây thuốc truyền thống chữa bệnh đái tháo đường ở Việt Nam (Nguyen và cộng sự 2019).
Theo nghiên cứu của Kannika P (Thái Lan), sự hiện diện của flavonoid, hợp chất polyphenol, glycoside, tannin, saponin, alkaloid và thử nghiệm hoạt tính sinh học được chỉ định rằng một số hợp chất này sở hữu các hoạt tính chống oxy hóa và kháng khuẩn (Panyaphu và cộng sự 2012). Ngoài ra theo các nghiên cứu trước đây, cao chiết methanol của rễ Olax viridis có khả năng chống lại tổn thương gan do acetaminophen tạo ra trên mô hình thực nghiệm bệnh gan ở chuột. Cao chiết ethanol từ lá của O. supscorpioidea có hoạt tính giúp an thần, chống co giật, tác dụng giảm đau (Adeoluwa và cộng sự 2014).
Hai triterpenes là rhoiptelenol và glutinol, được phân lập từ dịch chiết axeton của O. mannii, sử dụng làm phương thuốc dân gian để điều trị sốt, rắn cắn và vàng da (Sule và cộng sự 2011). Một saponin cụ thể là olaxoside đã được phân lập từ O. psittacorum được nghiên cứu có tác dụng nhuận tràng và chống viêm (Forgacs và Provost, 1981).
5 n Chiết xuất từ rễ của Olax imbricata được thu thập ở tỉnh Phú Yên, đã phân lập được ba glycoside triterpenoid là: 3-O-a-L-rhamnopyranosyl-(14)-b-D-glucopyranosyl-(13)- 6′-O-ethyl-b-D-glucuronyl oleanolic acid, oleanolic acid 28-O-b-D-glucopyranoside và spergulacin. Đặc biệt hợp chất oleanolic acid 28-O-b-D-glucopyranoside đã cho thấy hoạt động ức chế α-glucosidase mạnh mẽ với giá trị IC50 là 56,15 1,31 mM. Kết quả đã góp phần chứng minh việc sử dụng Olax imbricata như thuốc chữa bệnh đái tháo đường trong dân gian (Vo và cộng sự 2019).2 Giới thiệu các phương pháp thu nhận cao trích Cây thuốc là nguồn cung cấp hoạt chất sinh học phong phú nhất cho các hệ thống y học cổ truyền, y học hiện đại, dược phẩm, thực phẩm bổ sung, thuốc dân gian, dược phẩm trung gian. Một nguồn lớn chất phytochemical như phenolics và flavonoid đã được báo cáo là có tác động tích cực đến sức khỏe và phòng chống ung thư, có liên quan đến các hoạt động chống oxy hóa đóng vai trò vai trò trong việc ngăn ngừa sự phát triển của bệnh liên quan đến tuổi tác.
Để nghiên cứu thu nhận các thành phần hoạt tính sinh học phải tiến hành trích ly từ nguyên liệu (Nn, 2015). Trích ly là việc tách các thành phần có hoạt tính sinh học của các mô thực vật (và động vật) bằng cách sử dụng các dung môi chọn lọc thông qua các quy trình tiêu chuẩn. Nói cách khác, các kỹ thuật như vậy là tách các chất hòa tan và loại bỏ các chất không hòa tan trong tế bào. Trong quá trình trích ly, dung môi khuếch tán vào bên trong nguyên liệu và hòa tan các hợp chất có độ phân cực phù hợp.
Tất cả các sản phẩm này đều chứa hỗn hợp phức tạp của nhiều các chất chuyển hóa của cây thuốc, chẳng hạn như alkaloid, flavonoid, tecpen, saponin, steroid và glycoside (Poojar và cộng sự 2017). Một số phương pháp đã được sử dụng trong việc chiết xuất cây thuốc như: ngâm dầm, hãm, sắc, ngâm chiết, chưng và chiết xuất Soxhlet, chiết xuất bề mặt, chiết xuất có hỗ trợ siêu âm (UAE) và chiết xuất hỗ trợ vi sóng (MAE), chiết xuất siêu tới hạn (SFE). Ngoài ra, sắc ký lớp mỏng (TLC), sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), sắc ký giấy (PC) và sắc ký khí (GC) đã được sử dụng để tách và tinh chế các chất chuyển hóa thứ cấp (Nn, 2015). Việc lựa chọn một phương pháp chiết xuất thích hợp phụ thuộc vào bản chất của nguyên liệu thực vật, dung môi sử dụng, pH của dung môi, nhiệt độ và dung môi.
Nó cũng phụ thuộc vào mục đích sử dụng của các sản phẩm cuối cùng (Poojar và cộng sự 2017).1 Phương pháp ngâm dầm, ngâm chiết, sắc Ngâm dầm là một kỹ thuật sử dụng trong nấu rượu và đã được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu cây thuốc (Nn, 2015). Đây là một quy trình chiết xuất trong đó nguyên liệu thuốc dạng bột thô của lá hoặc vỏ thân, vỏ rễ, được cho vào bên trong thùng chứa; dung môi được đổ cho đến khi bao phủ hoàn toàn vật liệu thuốc. Sau đó, đậy nắp thùng, giữ trong ít nhất ba ngày, và được khuấy định kì; nếu đặt bên trong chai thì nên lắc thường xuyên để đảm bảo chiết xuất hoàn toàn. Vào cuối quá trình chiết xuất, dịch chiết được tách khỏi bằng cách lọc hoặc gạn.
Sau đó, loại bỏ dung môi bằng cách làm bay hơi trong tủ sấy hoặc trên nồi cách thủy. Phương pháp này thuận tiện và rất phù hợp với vật liệu thực vật dạng rắn (Poojar và cộng sự 2017). Ngâm chiết là kỹ thuật chiết xuất mà nguyên liệu làm thuốc được xay thành bột mịn, sau đó cho vào dụng cụ chứa. Dung môi chiết xuất nóng hoặc lạnh được cho vào nguyên liệu thuốc, ngâm và giữ trong thời gian ngắn.
Phương pháp này thích hợp để chiết xuất các thành phần có hoạt tính sinh học dễ hòa tan. Tỷ lệ dung môi so với mẫu thường là 4:1 hoặc 16:1 tùy theo mục đích sử dụng (Poojar và cộng sự 2017). Sắc là một quá trình chiết xuất nóng liên tục bằng cách sử dụng một lượng nước xác định làm dung môi. Nguyên liệu thực vật khô, xay hoặc bột được cho vào thùng sạch.
Sau đó đổ nước vào và khuấy đều. Sau đó, gia nhiệt được áp dụng trong suốt quá trình để đẩy nhanh quá trình chiết xuất. Quá trình này được kéo dài trong một thời gian ngắn thường là khoảng 15 phút (Pandey và Tripathi, 2014). Tỷ lệ dung môi so với thuốc thô thường là 4:1 hoặc 16:1.
Nó được sử dụng để chiết xuất nguyên liệu thực vật hòa tan trong nước và nhiệt (Poojar và cộng sự 2017).2 Phương pháp trích ly Soxhlet Trích ly Soxhlet là một phương pháp trích ly rắn/lỏng liên tục (Patel và cộng sự 2019) được áp dụng rộng rãi để chiết xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học có giá trị từ các nguồn tự nhiên khác nhau (Rakhee và cộng sự 2018). Trong phương pháp này, mẫu được nghiền mịn rồi gói trong túi giấy lọc và đặt vào ống chiết của thiết bị Soxhlet (Patel và cộng sự 2019). Sau đó, dung môi trích ly được rót từ ống sinh hàn qua ống chiết và chảy xuống bình cầu ở dưới đáy. Bếp đun sẽ đun nóng dung môi trong bình cầu ở dưới đáy của thiết bị.
Dung môi bay hơi vào ống bay hơi cùng với hợp chất cần trích ly, sau đó được ngưng tụ bởi hệ thống sinh hàn và nhỏ giọt xuống ống chiết. Khi lượng dung môi trong ống chiết ngang với ống siphon, dung môi sẽ chảy xuống bình cầu ở dưới đáy (Abubakar và Haque, 2020; Patel 7 n và cộng sự 2019). Nhờ vậy, dung môi cũng sẽ mang theo dịch trích xuống giúp thuận tiện cho quá trình thu hồi sản phẩm. Quá trình bay hơi – ngưng tụ này được thực hiện tuần hoàn đến khi trích ly hoàn toàn lượng hợp chất cần trích ly trong mẫu (Nn, 2015; Yusup và cộng sự 2015).
Trích ly Soxhlet là một phương pháp truyền thống được sử dụng để trích ly lipid trong thực phẩm (Hewavitharana và cộng sự, 2020). Ưu điểm của phương pháp này là sử dụng dung môi ít hơn so với phương pháp ngâm dầm (Nn, 2015). Bên cạnh đó, phương pháp này có khả năng thu hồi dung môi tốt, hệ thống rẻ tiền, dễ dàng xử lý và vận hành thiết bị (Handa và cộng sự 2008; Patel và cộng sự 2019). Dịch chiết sau trích ly không cần phải lọc cặn, là một phương pháp rất đơn giản (Luque de Castro và Priego-Capote, 2010).