Nghiên cứu không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị tại Hà Nội

Tổng hợp kiến thức Không gian sáng tạo trong văn hóa đô thị Hà Nội, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong chuyên ngành

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

174
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

0.7. Cơ cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Nghiên cứu về không gian đô thị

1.3. Nghiên cứu về không gian sáng tạo

1.4. Một số khái niệm

1.5. Lý thuyết khu vực công của Habermas

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH XÃ HỘI TẠI ĐÔ THỊ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC KHÔNG GIAN SÁNG TẠO

2.1. Đô thị Hà Nội - môi trường dung dưỡng các không gian sáng tạo

2.2. Những thay đổi của xã hội Việt Nam sau Đổi Mới

2.3. Những ấn phẩm của ngành công nghiệp xuất bản tại Việt Nam và tiến trình dân chủ hóa

2.4. Vai trò của các trung tâm văn hóa nước ngoài tại Việt Nam

2.5. Sự xuất hiện của internet, mạng xã hội và bối cảnh toàn cầu hóa

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC HÀNH VĂN HÓA TẠI CÁC KHÔNG GIAN SÁNG TẠO

3.1. Người trẻ và những thực hành văn hóa đa dạng trong KGST Giấc mơ nhỏ

3.2. Không gian kết nối những người đọc độc lập

3.3. Thảo luận tự do về các chủ đề

3.4. Chiếu phim, xem phim và thảo luận

3.5. Thảo luận về các vấn đề của môi trường và trách nhiệm xã hội

3.6. Trí thức trong không gian sáng tạo Cà phê Văn

3.7. Không gian của những thực hành nghệ thuật

3.8. Không gian gặp gỡ, kết nối và đối thoại

3.9. Không gian chất vấn và phản biện xã hội

3.10. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: KHÔNG GIAN SÁNG TẠO: TỰ DO BIỂU ĐẠT VÀ KIẾN TẠO BẢN SẮC

4.1. Không gian sáng tạo: không gian nới rộng biên độ tự do

4.2. Không gian mở ngỏ và đa dạng

4.3. Không gian sáng tạo: những không gian độc lập

4.4. Không gian sáng tạo: những không gian công đặc thù

4.5. Không gian kiến tạo bản sắc nhóm, bản sắc cá nhân

4.6. Không gian sáng tạo kết nối cảm xúc

4.7. Không gian sáng tạo và nhu cầu định vị cá nhân

4.8. Không gian sáng tạo và những tác động trong đời sống văn hóa đô thị

4.9. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Giới thiệu về không gian sáng tạo trong văn hóa đô thị Hà Nội

Không gian sáng tạo (KGST) tại Hà Nội đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống văn hóa đô thị. Những không gian này không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động nghệ thuật mà còn là nơi kết nối cộng đồng, thúc đẩy sự sáng tạo và tự do biểu đạt. Hà Nội, với bề dày văn hóa và lịch sử, đã tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các KGST. Các không gian như Giấc mơ nhỏ và Cà phê Văn đã trở thành điểm đến cho những người trẻ và trí thức, nơi họ có thể thảo luận, chia sẻ ý tưởng và thực hành văn hóa. Sự phát triển của KGST phản ánh nhu cầu về một không gian tự do, nơi mà mọi người có thể giao lưu và thể hiện bản thân. "KGST không chỉ là nơi để sáng tạo nghệ thuật mà còn là nơi để bàn thảo về những vấn đề xã hội".

1.1. Định nghĩa không gian sáng tạo

Không gian sáng tạo được định nghĩa là những khu vực hoặc địa điểm mà tại đó, các hoạt động nghệ thuật, văn hóa và xã hội diễn ra một cách tự do và sáng tạo. Những không gian này thường được hình thành từ sự tự phát của cộng đồng, nơi mà các cá nhân có thể tham gia vào các hoạt động nghệ thuật, thảo luận và chia sẻ ý tưởng. KGST không chỉ đơn thuần là không gian vật lý mà còn là không gian tâm lý, nơi mà mọi người cảm thấy thoải mái để thể hiện bản thân. "KGST là nơi mà sự sáng tạo và tự do gặp gỡ, tạo ra những giá trị văn hóa mới".

II. Bối cảnh xã hội và sự ra đời của các không gian sáng tạo

Bối cảnh xã hội tại Hà Nội đã có nhiều thay đổi sau Đổi Mới, tạo điều kiện cho sự ra đời của các KGST. Sự phát triển của internet và mạng xã hội đã giúp kết nối các cá nhân và nhóm, tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc chia sẻ ý tưởng và thực hành văn hóa. Các KGST như Zone 9, Hanoi Creative City đã trở thành những biểu tượng cho sự sáng tạo và đổi mới trong văn hóa đô thị. "Sự xuất hiện của KGST phản ánh những thay đổi trong nhu cầu và mong muốn của cộng đồng". Những không gian này không chỉ phục vụ cho nghệ thuật mà còn là nơi để thảo luận về các vấn đề xã hội, môi trường và trách nhiệm cộng đồng.

2.1. Những thay đổi trong xã hội Việt Nam

Sau Đổi Mới, xã hội Việt Nam đã chứng kiến nhiều thay đổi lớn, từ kinh tế đến văn hóa. Những thay đổi này đã tạo ra một môi trường mới cho sự phát triển của KGST. Các không gian sáng tạo không chỉ là nơi để thể hiện nghệ thuật mà còn là nơi để thảo luận về các vấn đề xã hội, từ môi trường đến giáo dục. "KGST là nơi mà các vấn đề xã hội được đưa ra bàn luận, tạo ra những tác động tích cực đến cộng đồng".

III. Thực hành văn hóa tại các không gian sáng tạo

Thực hành văn hóa tại các KGST rất đa dạng và phong phú. Từ các buổi thảo luận, chiếu phim đến các hoạt động nghệ thuật, mỗi KGST đều có những đặc trưng riêng. Tại Giấc mơ nhỏ, người trẻ có thể tham gia vào các hoạt động thảo luận về môi trường, trong khi tại Cà phê Văn, trí thức có thể chia sẻ ý tưởng và quan điểm của mình. "Các KGST không chỉ là nơi để sáng tạo mà còn là nơi để kết nối và chia sẻ". Những hoạt động này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn tạo ra một cộng đồng gắn kết.

3.1. Các hoạt động văn hóa tại không gian sáng tạo

Các hoạt động văn hóa tại KGST thường rất đa dạng, từ thảo luận về các chủ đề xã hội đến các buổi chiếu phim và triển lãm nghệ thuật. Những hoạt động này không chỉ thu hút sự tham gia của cộng đồng mà còn tạo ra một không gian để mọi người có thể giao lưu và học hỏi lẫn nhau. "KGST là nơi mà mọi người có thể đến để tìm kiếm cảm hứng và kết nối với những người có cùng sở thích".

IV. Ý nghĩa và giá trị của không gian sáng tạo

Không gian sáng tạo mang lại nhiều giá trị cho cộng đồng và xã hội. Chúng không chỉ là nơi để thể hiện nghệ thuật mà còn là nơi để phát triển tư duy, khuyến khích sự sáng tạo và tự do biểu đạt. Các KGST giúp nâng cao nhận thức về các vấn đề xã hội và tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các ý tưởng mới. "KGST không chỉ là không gian vật lý mà còn là không gian tâm lý, nơi mà mọi người có thể tự do thể hiện bản thân".

4.1. Giá trị xã hội của không gian sáng tạo

KGST đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối cộng đồng và thúc đẩy sự tham gia của mọi người vào các hoạt động văn hóa. Chúng giúp tạo ra một môi trường nơi mà mọi người có thể chia sẻ ý tưởng, thảo luận về các vấn đề xã hội và phát triển bản thân. "KGST là nơi mà mọi người có thể tìm thấy tiếng nói của mình và kết nối với những người khác".

25/01/2025
Luận án tiến sĩ không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng 2: Bối cảnh xã hội tại các đô thị và sự ra đời của các không gian sáng tạo Chƣơng 3: Thực hành văn hóa tại các không gian sáng tạo Chƣơng 4: Không gian sáng tạo: tự do biểu đạt và kiến tạo bản sắc 12 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về không gian đô thị Không gian đô thị từ lâu là một chủ đề hấp dẫn, thu hút nhiều nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau. Các nghiên cứu đa phần thƣờng tập trung vào hai chiều cạnh cơ bản của không gian đô thị: không gian chức năng và không gian xã hội.

Khi xem xét không gian đô thị nhƣ một không gian chức năng, các nghiên cứu thuộc ngành kiến trúc, quy hoạch và quản lý đô thị thƣờng đề cập đến cấu trúc không gian đô thị, coi không gian đô thị là một vùng lãnh thổ, một khu vực mà ở đó xây dựng, kiến thiết nên cơ sở vật chất phục vụ, đáp ứng nhu cầu về làm việc, nghỉ ngơi, giải trí, giao tiếp của cƣ dân đô thị, hƣớng đến việc tạo lập đô thị sinh thái, nhân văn và phát triển bền vững. Theo đó, không gian đô thị thƣờng bao gồm khu vực xây dựng nhà ở, công trình dịch vụ đô thị, hệ thống phục vụ giáo dục (trƣờng học), thƣơng mại (trung tâm thƣơng mại, chợ, siêu thị…), sản xuất (nhà máy, công xƣởng, văn phòng…). Trong khi đó, các nghiên cứu của ngành xã hội học, văn hóa học, nhân học… thƣờng xem không gian đô thị nhƣ một không gian xã hội, nơi quy tụ, tập trung của nhiều nhóm xã hội với những đặc điểm riêng về giới tính, lứa tuổi, trình độ, mối quan tâm, nhu cầu, thị hiếu… Trong luận án này, để xây dựng cơ sở lý luận cho những phân tích sau về KGST, NCS chỉ lựa chọn tổng quan một số nghiên cứu dƣới góc độ tiếp cận thứ hai, coi không gian đô thị nhƣ một không gian xã hội. Với lý thuyết kiến tạo không gian xã hội (the social production of space), công trình kinh điển The production of space (Sự sản xuất không gian) của Henri Lefebvre (1901-1991) - nhà xã hội học và triết gia ngƣời Pháp - đƣợc viết năm 1974, bản dịch tiếng Anh năm 1991, đã đóng góp quan trọng cho lý thuyết không gian đô thị, tạo nên một “bƣớc ngoặt về không gian” (the 13 spatial turn), mở ra một mối quan tâm mới về không gian.

Theo Lefebvre, không gian không phải là một cấu trúc tĩnh mà là sản phẩm mang tính xã hội do con ngƣời tạo ra, đƣợc kiến tạo và tái kiến tạo bởi con ngƣời, đƣợc định hình bởi ý tƣởng, niềm tin, giá trị và nguyên tắc, từ sở thích và những mối bận tâm của con ngƣời: “Không gian (xã hội) là một sản phẩm xã hội… không gian sản xuất như vậy đảm nhiệm như một công cụ suy nghĩ và hành động; bên cạnh việc là một tư liệu sản xuất, nó còn là tư liệu kiểm soát, và như vậy là tư liệu cai trị, quyền lực. Trong nghiên cứu này, Lefebvre đã thách thức các khái niệm truyền thống về không gian nhƣ một bối cảnh thụ động, cố định và đề xuất khái niệm không gian là sự thống nhất của ba phƣơng diện: phƣơng diện vật lí (physical space), phƣơng diện xã hội (social space) và phƣơng diện tinh thần (mental space). Mục tiêu của Lefebvre trong việc xây dựng bộ ba không gian này là để chứng minh không gian không phải là một đối tƣợng mà là kết quả của một tập hợp các mối quan hệ. Không gian định hình và đƣợc định hình bởi các mối quan hệ xã hội.

Lefebvre cũng cho rằng mọi xã hội đều tạo nên những không gian xã hội khác biệt để đáp ứng cho nhu cầu của con ngƣời. Tác phẩm của Lefebvre có ảnh hƣởng sâu sắc, tạo ra cả một giai đoạn không gian - những năm đầu thập niên 1990 - khi khiến cho các nhà lí thuyết nhân học hay cả các nhà địa lí hậu hiện đại nỗ lực nghĩ và hiểu về không gian theo một cách khác. Không gian là năng động, là sự đan xen giữa biểu hiện và kinh nghiệm sống, chạm vào tất cả các lĩnh vực của đời sống, văn hóa, tôn giáo… Không gian dần trở thành đối tƣợng nghiên cứu trung tâm. Những nghiên cứu về không gian ngày càng nhiều.

Các chiều kích ý nghĩa của không gian dần đƣợc mở ra trong mối quan hệ với con ngƣời, góp phần giải thích ý nghĩa của nhiều thực hành văn hóa. Các loại không gian theo đó cũng khá đa dạng, có nhiều loại không gian cùng tồn tại (Nguyễn Văn Sửu, 2011) [68]. Setha Low và Denise Lawrence-Zuniga (2007) trong nghiên 14 cứu “Locating Culture” đã phân thành 6 loại không gian bao gồm: không gian hiện thân, gắn với những trải nghiệm của cơ thể (embodied space), không gian của giới và các mối quan hệ (gendered spaces), không gian ký ức (inscribed spaces), không gian tranh chấp (contested space), không gian xuyên biên giới (trannational spaces), các chiến thuật không gian (spatial tactics) [111]. Hay không gian công (public space) và không gian tƣ (private space) trong nghiên cứu của Lisa Drummond (2000) [87] và Sandra Kurfürst (2008) [105]; không gian thiêng trong nghiên cứu của Phạm Quỳnh Phƣơng (2010) [49] … Rất nhiều các phân tích đa dạng về không gian đô thị sau này đều dựa trên quan niệm không gian là một kiến tạo xã hội.

Trong bối cảnh đô thị tại Việt Nam, sự kiến tạo của các cộng đồng, các nhóm chủ thể văn hóa khác nhau cũng tạo ra những chiều kích không gian khác nhau, phản ánh những động năng của xã hội cũng nhƣ nhu cầu, mong muốn và mối quan tâm của con ngƣời. Nhiều nhất trong số đó là những nghiên cứu về không gian công cộng (KGCC). Có thể nói, bối cảnh nghiên cứu về KGCC khá đa dạng, bề bộn, nhƣ chính thực tiễn của các KGCC trong không gian đô thị. Khái niệm KGCC đƣợc đề cập và nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau: kiến trúc, quy hoạch và quản lý đô thị; xã hội học; văn hóa học; nhân học… Các nghiên cứu đều thừa nhận những đóng góp tích cực của các KGCC cho đời sống thành phố, sự đa dạng của các loại hình KGCC cũng nhƣ ý nghĩa của nó đối với từng nhóm ngƣời cụ thể, quan tâm đến kích thƣớc KGCC qua việc tìm hiểu sự “co giãn”, nới rộng hay thu hẹp các không gian, chiến lƣợc riêng hóa KGCC phục vụ cho mục đích cá nhân… Các nhà kiến trúc, quy hoạch và quản lý đô thị quan tâm tới việc quy hoạch, tổ chức không gian và phát triển đô thị, nhìn nhận KGCC nhƣ là những không gian mở, dễ tiếp cận, là nơi giao tiếp và nghỉ ngơi, thƣ giãn, là 15 môi trƣờng văn hóa xã hội - nơi diễn ra những tƣơng tác xã hội, đáp ứng và thỏa mãn nhiều nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của ngƣời dân đô thị.

Theo đó KGCC có thể bao gồm đƣờng sá, quảng trƣờng, công viên, những khoảng không gian giữa các công trình kiến trúc. Nhiều nghiên cứu quan tâm đến KGCC nhƣ một trong nhiều các yếu tố để tạo nên “thành phố đáng sống”, mang lại nhiều ý nghĩa cho cấu trúc, môi trƣờng và cuộc sống đô thị, là nơi thể hiện sống động nhất phần hồn của đô thị hay tạo ra bản sắc riêng cho đô thị, có thể kể đến nhƣ các bài viết trong kỷ yếu hội thảo chuyên đề Chuyển hóa đô thị và tương lai của cuộc sống đô thị tại Việt Nam năm 2005 do Trung tâm nghiên cứu toàn cầu hóa và Giải pháp đô thị - nông thôn đồng tổ chức [74], Không gian công cộng trong đô thị, từ lý luận đến thiết kế của Phạm Thúy Loan (2016) [37], Không gian công cộng - những vấn đề chính và biện pháp kiểm soát của Nguyễn Thanh Bình (2017) [5], Sức hấp dẫn của không gian công cộng (Doãn Minh Khôi, 2018) [33], Không gian công cộng trong quy hoạch và phát triển bền vững (Nguyễn Quang, 2018) [56]… KGCC trong những trƣờng hợp này để chỉ những không gian ngoài trời, không gian tự nhiên, không gian mở (nhƣ công viên, đƣờng phố, vỉa hè, quảng trƣờng…) hay các khoảng không gian trong nhà nhƣng đƣợc phép tiếp cận tự do (nhà ga, sân bay, trung tâm thƣơng mại…), nơi diễn ra các hoạt động mang tính công cộng nhƣ nghỉ ngơi, giao tiếp, mua bán, đi lại… KGCC đƣợc xem là “khoảng thở”, “những phần không gian trống” của cảnh quan đô thị nơi mà ngƣời dân bƣớc ra khỏi những “chiếc hộp” cá nhân để tham gia vào đời sống chung. Các nghiên cứu cũng lo lắng cho sự biến mất của các KGCC khi mà dƣờng nhƣ KGCC đang không đƣợc sử dụng nhƣ mục đích ban đầu, bị lấn chiếm và sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, hay sự xung đột giữa các nhóm ngƣời sử dụng KGCC giữa các thế hệ, các tầng lớp xã hội, từ đó bàn đến trách nhiệm quản lý hay những khuyến nghị về việc duy trì và cung cấp KGCC cho các nhóm đối tƣợng. Thách thức đó đƣợc nhìn nhận, lý giải và phân tích nhƣ là kết quả của quá trình chuyển dịch đô thị, quá trình đô thị hóa 16 diễn ra mạnh mẽ, sức ép về nhu cầu sử dụng KGCC ngày càng tăng, hạ tầng kĩ thuật công cộng chƣa theo kịp để đáp ứng nhu cầu của ngƣời dân… và từ đó đặt ra trách nhiệm cho các nhà quản lý trong việc xây dựng khung pháp lý để quản lý, kiểm soát, tạo dựng và đáp ứng KGCC cho ngƣời dân.

Nhìn chung, phần lớn các nghiên cứu này đều đƣợc tiếp cận với góc nhìn từ trên xuống, mong muốn thiết kế và tạo dựng nên những KGCC phục vụ cho ngƣời dân đô thị, bằng việc dựng nên hoặc mô phỏng một mô hình KGCC nào đó và áp dụng cho các KGCC trong thành phố. Trong những nghiên cứu này, ngƣời ta khó lòng có thể tìm thấy những gƣơng mặt con ngƣời và đời sống đa dạng, muôn màu, mà thƣờng chỉ thấy con ngƣời dƣới dạng thức những con số, tỉ số bình quân bao nhiêu ngƣời trên một mét vuông diện tích KGCC. Hơn nữa, các nghiên cứu từ góc nhìn kiến trúc, thiết kế đô thị thƣờng có xu hƣớng mô hình hóa, tạo ra những KGCC gọn ghẽ, văn minh, hiện đại. Nhƣng thực tế, KGCC tồn tại trong thế sinh động, bề bộn hơn rất nhiều.

Bổ khuyết cho những hạn chế của cách tiếp cận từ trên xuống, từ góc nhìn của ngành văn hóa học, xã hội học, nhân học… với cách tiếp cận từ dƣới lên lại cho thấy nhiều ý nghĩa khác của KGCC.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị tại Hà Nội" của tác giả Phạm Thị Hương, dưới sự hướng dẫn của PGS. Bùi Hoài Sơn và TS. Đào Thế Đức, tập trung vào việc khám phá các không gian sáng tạo trong bối cảnh văn hóa đô thị của Hà Nội. Nghiên cứu này không chỉ làm nổi bật vai trò của các không gian sáng tạo trong việc thúc đẩy văn hóa đô thị mà còn chỉ ra những lợi ích mà chúng mang lại cho cộng đồng, từ việc nâng cao chất lượng cuộc sống đến việc khuyến khích sự phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh pháp lý liên quan đến văn hóa và không gian sáng tạo, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nơi đề cập đến các vấn đề pháp lý liên quan đến đất đai, một yếu tố quan trọng trong việc phát triển không gian sáng tạo. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ về pháp luật giá đất và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý ảnh hưởng đến việc sử dụng đất cho các không gian sáng tạo. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về thu hồi đất và thực tiễn áp dụng tại huyện Mỹ Đức, Hà Nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy trình pháp lý liên quan đến đất đai trong bối cảnh phát triển đô thị. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới về mối liên hệ giữa không gian sáng tạo và các quy định pháp lý tại Việt Nam.