Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Pháp luật tố tụng hình sự giữ vai trò là phương tiện và cách thức để các nhà nước đương đại phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử hành vi phạm tội. Về mặt lý luận, việc khởi tố vụ án hình sự thuộc trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền khi xác định có dấu hiệu tội phạm; hoạt động này phản ánh quyền lực công và không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ cá nhân nào. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, có những trường hợp việc xử lý hình sự dù bảo đảm trật tự xã hội nhưng lại vô tình gây thêm tổn thương, mất mát về mặt thể chất, tinh thần hoặc bí mật đời tư cho chính nạn nhân. Nhằm cân bằng giữa lợi ích công cộng và quyền lợi cá nhân, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã thiết lập chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại, trao cho bị hại quyền định đoạt việc khởi động thủ tục tố tụng đối với một số tội danh nhất định.

Quyền yêu cầu khởi tố của bị hại đã được ghi nhận qua nhiều giai đoạn lập pháp, từ Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, Điều 105 BLTTHS năm 2003 và hiện nay là Điều 155 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Mặc dù là một chế định nền tảng trong khoa học luật tố tụng hình sự, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận trên cơ sở các quy định cũ. Mặt khác, Hà Giang là một tỉnh miền núi, biên giới phía Bắc có đặc thù về kinh tế - xã hội, trình độ dân trí và cơ cấu đa dân tộc, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào khảo sát chuyên sâu và có hệ thống về việc áp dụng quy định này tại địa phương. Do đó, việc nghiên cứu đề tài mang tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn cơ sở.

Mục tiêu tổng quát của khóa luận là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, khảo sát thực tiễn áp dụng tại tỉnh Hà Giang, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
  2. Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
  3. Đánh giá thực tiễn thi hành quy định tại tỉnh Hà Giang, chỉ ra các vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại đó.
  4. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định trong thực tế.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống lý luận, các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Về phạm vi, đề tài tiếp cận dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự gắn liền với BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và các văn bản hướng dẫn; phạm vi không gian giới hạn tại địa bàn tỉnh Hà Giang; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu và số liệu thực tiễn kéo dài từ năm 2020 đến hết tháng 6 năm 2023.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được triển khai dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, cùng các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và đấu tranh phòng, chống tội phạm. Về mặt lập pháp, nghiên cứu dựa trên hệ thống văn bản pháp lý gồm Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); BLTTHS năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS ngày 12/11/2021; Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015; Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao và các thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành (Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP).

Tác giả kế thừa và đối chiếu các luận điểm khoa học từ các công trình nghiên cứu tiêu biểu như giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, luận án tiến sĩ của Nguyễn Đức Thái (2015), luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tiến Long (2018), Hoàng Lan Phương (2009), cùng các bài viết chuyên khảo của TS. Trần Văn Biên, TS. Đinh Thế Hưng, GS. Nguyễn Ngọc Anh, TS. Phan Trung Hoài.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, khóa luận phối hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học pháp lý:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để làm rõ các khái niệm, đặc điểm pháp lý, cơ cấu điều luật và đánh giá các quan điểm lập pháp.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý và hệ thống hóa các chuỗi số liệu thụ lý, khởi tố, xét xử và đình chỉ vụ án qua các năm.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các quy định của BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 1988, 2003 và các cam kết quốc tế.
  • Phương pháp logic và lịch sử: Phân tích tiến trình phát triển của chế định và luận giải nguyên nhân dẫn đến các vướng mắc thực tiễn.

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm các báo cáo tổng kết công tác kiểm sát hàng năm (2020, 2021, 2022 và 6 tháng đầu năm 2023) của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Hà Giang; báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Cục Thống kê tỉnh Hà Giang; báo cáo an ninh trật tự của Công an tỉnh Hà Giang và hồ sơ giải quyết vụ án thực tế trên địa bàn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung và quy định của pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Chương 1 tập trung phân tích bản chất pháp lý của chế định thông qua việc giải cấu trúc hai khái niệm cơ bản: "khởi tố vụ án hình sự" và "bị hại". Khởi tố vụ án hình sự được xác định là giai đoạn tố tụng độc lập đầu tiên, mở đầu quá trình điều tra nhằm xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định tố tụng tương ứng. Bị hại theo khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015 được quy định là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Trên cơ sở đó, khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt mà việc khởi tố chỉ được tiến hành khi có yêu cầu hợp pháp của chính nạn nhân hoặc đại diện hợp pháp của họ trong các trường hợp luật định.

Chế định này mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc: vừa bảo đảm đấu tranh ngăn ngừa tội phạm, vừa tôn trọng quyền tự định đoạt của công dân, bảo vệ danh dự, bí mật đời tư, khuyến khích hòa giải nội bộ nhân dân và giảm tải áp lực thụ lý không cần thiết cho các cơ quan tiến hành tố tụng.

Về quá trình phát triển lập pháp, phạm vi các tội danh khởi tố theo yêu cầu có sự thay đổi rõ rệt: BLTTHS năm 1988 ghi nhận 07 tội danh tại 06 điều luật; BLTTHS năm 2003 mở rộng lên 17 tội danh tại 10 điều luật; BLTTHS năm 2015 thu gọn còn 10 tội danh. Ngày 12/11/2021, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS, chính thức bãi bỏ việc dẫn chiếu đến Điều 226 BLHS (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý) nhằm bảo đảm tương thích với điểm g khoản 6 Điều 18.77 của Hiệp định CPTPP. Do đó, hiện nay diện các trường hợp chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại bao gồm 09 tội danh quy định tại khoản 1 của các điều luật:

  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134)
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135)
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136)
  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138)
  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139)
  • Tội hiếp dâm (Điều 141)
  • Tội cưỡng dâm (Điều 143)
  • Tội làm nhục người khác (Điều 155)
  • Tội vu khống (Điều 156)

Trong số này, có 07 tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng và 02 tội phạm thuộc loại nghiêm trọng (khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 143). Một điểm mới quan trọng của BLTTHS năm 2015 là quy định bị hại có quyền lựa chọn khởi tố nhưng không được từ chối giám định; nếu từ chối không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải, dẫn giải theo điểm b khoản 2 Điều 127 BLTTHS.

Về chủ thể, quyền yêu cầu thuộc về cá nhân bị hại hoặc người đại diện hợp pháp nếu bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần hoặc người đã chết. Tác giả phân tích cụ thể 3 hệ quả pháp lý:

  1. Trường hợp có yêu cầu: Mở ra giai đoạn điều tra, làm phát sinh quyền trình bày lời buộc tội của bị hại tại phiên tòa (khoản 4 Điều 320) và nghĩa vụ chịu án phí nếu bị cáo được tuyên không có tội (khoản 3 Điều 136 BLTTHS).
  2. Trường hợp không yêu cầu: Là căn cứ không khởi tố vụ án (khoản 8 Điều 157, khoản 1 Điều 158); nếu đã khởi tố phải hủy quyết định hoặc đình chỉ điều tra (Điều 230), đình chỉ vụ án (Điều 248).
  3. Trường hợp rút yêu cầu (khoản 2 Điều 155): Vụ án phải được đình chỉ ở bất kỳ giai đoạn nào, trừ khi việc rút yêu cầu là do bị ép buộc, cưỡng bức. Việc áp dụng được hướng dẫn thống nhất tại Công văn số 254/TANDTC-PC. Đáng chú ý, bị hại chỉ được rút yêu cầu một lần duy nhất và chỉ được rút đối với toàn bộ vụ án chứ không được rút riêng lẻ cho từng bị can, bị cáo.

Chương 2: Thực tiễn thi hành pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại tại tỉnh Hà Giang và một số kiến nghị

Chương 2 phác họa bức tranh thực tiễn áp dụng tại tỉnh Hà Giang - địa bàn miền núi biên giới cực Bắc gồm 11 huyện, 01 thành phố với 195 xã, phường, thị trấn; diện tích 7.945 km2; dân số trên 83 vạn người thuộc 19 dân tộc, trong đó khu vực nông thôn và vùng núi chiếm 84,08%. Về kinh tế - xã hội, GRDP bình quân năm 2022 đạt 34,24 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo còn 18,54% (năm 2021); 6 tháng đầu năm 2023 GRDP tăng 1,18%, xếp thứ 12/14 tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc. Tình hình an ninh trật tự cơ bản giữ vững, tỷ lệ khám phá án hàng năm đạt trên 97% - 98,5%.

Qua theo dõi số liệu thực tế, số lượng vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu của bị hại tại Hà Giang chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số án khởi tố qua các năm:

Năm Tổng số vụ án hình sự đã khởi tố Số vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại Tỷ lệ (%)
2020 560 29 5,18
2021 597 32 5,36
2022 502 25 4,98
6 tháng đầu năm 2023 317 14 4,42
Tổng cộng 1.976 100 5,06

Về công tác xử lý và giải quyết án, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Hà Giang đạt tỷ lệ giải quyết 100% số vụ án thụ lý. Tình hình xử lý án phân hóa rõ nét theo nhóm tội danh:

Thời kỳ Tội phạm theo khoản 1 Điều luật Số vụ phải giải quyết Đình chỉ do bị hại rút yêu cầu (Số vụ) Tỷ lệ đình chỉ (%) Đưa ra xét xử (Số vụ) Tỷ lệ xét xử (%)
Năm 2021 Điều 134 (Cố ý gây thương tích) 34 03 8,82 31 91,18
Điều 141 (Hiếp dâm) 10 00 0,00 10 100,00
Điều 143 (Cưỡng dâm) 15 00 0,00 15 100,00
Các Điều 135, 136, 138, 139, 155, 156 00 00 0,00 00 0,00
Tổng năm 2021 59 03 5,08 56 94,92
Năm 2022 Điều 134 (Cố ý gây thương tích) 25 01 4,00 24 96,00
Điều 141 (Hiếp dâm) 12 00 0,00 12 100,00
Điều 143 (Cưỡng dâm) 13 00 0,00 13 100,00
Các Điều 135, 136, 138, 139, 155, 156 00 00 0,00 00 0,00
Tổng năm 2022 50 01 2,00 49 98,00
6T/2023 Điều 134 (Cố ý gây thương tích) 12 01 8,33 11 91,67
Điều 141 (Hiếp dâm) 01 00 0,00 01 100,00
Điều 143 (Cưỡng dâm) 01 00 0,00 01 100,00
Các Điều 135, 136, 138, 139, 155, 156 00 00 0,00 00 0,00
Tổng 6T/2023 14 01 7,14 13 92,86

Từ số liệu trên, tác giả chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân cốt lõi trong thực tiễn:

  • Án chỉ tập trung cục bộ vào 3 tội danh (khoản 1 các Điều 134, 141, 143). Các tội danh quy định tại Điều 135, 136, 138, 139, 155, 156 hoàn toàn không phát sinh thụ lý trong suốt giai đoạn khảo sát.
  • Vướng mắc trong vụ án có nhiều bị hại nhưng ý chí mâu thuẫn: Điển hình là vụ việc ngày 06/3/2023 tại huyện Xín Mần, đối tượng A gây thương tích cho B và C, tỷ lệ tổn hại của từng người dưới 11% nhưng tổng cộng từ 11% đến dưới 30% (thuộc diện khởi tố theo yêu cầu). B có đơn yêu cầu khởi tố nhưng C từ chối do có quan hệ thân thích với A. Các cơ quan tiến hành tố tụng gặp lúng túng do luật chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể trường hợp này.
  • Bất cập trong quy định pháp luật:
    • Danh mục 09 tội danh chiếm tỷ lệ quá nhỏ (chỉ 9/320 cấu thành tội phạm). Nhiều tội phạm xâm phạm sở hữu ít nghiêm trọng, không có yếu tố vụ lợi hoặc mức độ nguy hiểm xã hội thấp khi tài sản đã được khắc phục/trả lại thì lại chưa được áp dụng khởi tố theo yêu cầu: Tội chiếm giữ trái phép tài sản (khoản 1 Điều 176), Tội sử dụng trái phép tài sản (khoản 1 Điều 177), Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (khoản 1 Điều 178), Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (khoản 1 Điều 180 BLHS).
    • Ngược lại, khoản 1 Điều 134 vẫn duy trì các tình tiết định khung có tính chất nguy hiểm cao (dùng hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ, tái phạm nguy hiểm) vào diện khởi tố theo yêu cầu của bị hại là chưa hợp lý.
    • Luật chưa quy định thời hạn cụ thể buộc bị hại phải đưa ra yêu cầu khởi tố, gây xung đột với thời hạn kiểm tra, xác minh tố giác tội phạm (tối đa không quá 02 tháng theo Điều 147 BLTTHS), dẫn đến nguy cơ quá hạn giải quyết nguồn tin tội phạm.

Từ những phân tích trên, tác giả đề xuất hoàn thiện Điều 155 BLTTHS: bổ sung các tội xâm phạm sở hữu ít nghiêm trọng (khoản 1 các Điều 176, 177, 178, 180 BLHS); bãi bỏ cơ chế khởi tố theo yêu cầu đối với các trường hợp có tính chất côn đồ hoặc dùng vũ khí nguy hiểm tại Điều 134; ấn định thời hạn đưa ra yêu cầu khởi tố; ban hành thông tư hướng dẫn giải quyết trường hợp vụ án có nhiều bị hại và tăng cường tuyên truyền pháp luật đối với vùng đồng bào thiểu số tại địa phương.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể gắn với các số liệu thực chứng:

  • Khảo sát toàn diện 1.976 vụ án hình sự được khởi tố tại tỉnh Hà Giang trong giai đoạn 2020 – 6 tháng đầu năm 2023; chỉ rõ có 100 vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, chiếm tỷ lệ trung bình 5,06%.
  • Xác lập cơ cấu tội danh khởi tố theo yêu cầu trên địa bàn: 100% số vụ án thực tế chỉ phát sinh ở 3 tội danh gồm Tội cố ý gây thương tích (Điều 134), Tội hiếp dâm (Điều 141) và Tội cưỡng dâm (Điều 143); 06 tội danh còn lại theo quy định tại Điều 155 BLTTHS (các Điều 135, 136, 138, 139, 155, 156) không ghi nhận vụ án nào phát sinh.
  • Đánh giá tỷ lệ đình chỉ do rút đơn yêu cầu: Trong giai đoạn 2021 – 6 tháng 2023, toàn tỉnh có 05 vụ án được đình chỉ do bị hại rút yêu cầu (năm 2021: 03 vụ, chiếm 8,82%; năm 2022: 01 vụ, chiếm 4%; 6 tháng 2023: 01 vụ, chiếm 7,14%), toàn bộ 05 vụ án này đều thuộc Tội cố ý gây thương tích (Điều 134). Ngược lại, 100% số vụ án thuộc Tội hiếp dâm và Cưỡng dâm đều được giữ nguyên và đưa ra xét xử (đạt tỷ lệ 100%).
  • Đóng góp khoa học: Khóa luận là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trên địa bàn tỉnh Hà Giang; cập nhật các thay đổi lập pháp mới nhất theo Luật sửa đổi BLTTHS năm 2021 gắn với cam kết của Hiệp định CPTPP; đưa ra các đề xuất lập pháp cụ thể nhằm mở rộng diện tội phạm tại chương xâm phạm sở hữu và hoàn thiện kỹ thuật lập pháp tố tụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế do văn bản tự xác định:

  • Dữ liệu thực tiễn và phạm vi khảo sát chỉ giới hạn trên địa bàn một tỉnh miền núi (Hà Giang) và chuỗi số liệu dừng lại ở mốc 6 tháng đầu năm 2023, chưa bao quát được toàn diện số liệu của cả năm 2023.
  • Chưa thu thập được số liệu thống kê đối với các vụ việc bị hại yêu cầu khởi tố lại sau khi đã rút đơn do đây không phải là chỉ tiêu thống kê nghiệp vụ của ngành kiểm sát.
  • Không thể thống kê được số lượng các vụ việc có dấu hiệu tội phạm trên thực tế nhưng các bên tự hòa giải, che giấu và không trình báo cơ quan công an.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi khảo sát số liệu ra toàn bộ các tỉnh thuộc khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc; đánh giá tác động thực tiễn sau khi sửa đổi, bổ sung quy định tố tụng trong các vụ án có nhiều bị hại; và nghiên cứu sâu hơn về tâm lý, phong tục tập quán ảnh hưởng đến việc rút đơn khởi tố của đồng bào dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Tố tụng Hình sự, Luật Hình sự làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về chế định bảo vệ quyền của bị hại và giai đoạn khởi tố vụ án hình sự.
  • Cán bộ thực tiễn tại các cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân, đặc biệt là các địa bàn miền núi, biên giới có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng với Hà Giang.

Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất là hệ thống phân tích về hậu quả pháp lý của hành vi rút đơn khởi tố theo quy định của BLTTHS năm 2015 và Công văn số 254/TANDTC-PC (Chương 1), cùng hệ thống bảng biểu thống kê thực chứng và việc phân tích tình huống thực tiễn giải quyết vụ án nhiều bị hại tại huyện Xín Mần (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS ngày 12/11/2021 lại bãi bỏ quy định khởi tố theo yêu cầu của bị hại đối với Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 BLHS)?
Việc bãi bỏ này nhằm bảo đảm sự tương thích với cam kết quốc tế của Việt Nam tại điểm g khoản 6 Điều 18.77 Hiệp định CPTPP. Quy định này cho phép các cơ quan có thẩm quyền chủ động khởi tố hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý mà không phụ thuộc vào đơn yêu cầu của chủ thể quyền.

2. Tỷ lệ các vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại so với tổng số vụ án hình sự khởi tố tại Hà Giang từ năm 2020 đến 6 tháng đầu năm 2023 là bao nhiêu?
Trong giai đoạn này, toàn tỉnh khởi tố 1.976 vụ án hình sự, trong đó có 100 vụ khởi tố theo yêu cầu của bị hại, chiếm tỷ lệ trung bình là 5,06% (năm 2020: 5,18%; năm 2021: 5,36%; năm 2022: 4,98%; 6 tháng 2023: 4,42%).

3. Khi bị hại rút yêu cầu khởi tố đối với một trong nhiều bị can trong cùng một vụ án thì cơ quan tố tụng xử lý như thế nào?
Theo quy định pháp luật và phân tích trong khóa luận, bị hại chỉ có quyền rút yêu cầu khởi tố đối với toàn bộ vụ án, không có quyền rút riêng rẽ cho từng bị can. Nếu bị hại rút cho một bị can thì cơ quan tố tụng phải giải thích rõ; trường hợp có sự tự nguyện bồi thường thiệt hại thì có thể xem xét áp dụng khoản 3 Điều 29 BLHS để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can đó.

4. Vướng mắc pháp lý cốt lõi rút ra từ vụ án ngày 06/3/2023 tại huyện Xín Mần là gì?
Vụ việc một đối tượng gây thương tích cho hai người, mỗi người dưới 11% nhưng tổng tỷ lệ thương tật từ 11% đến dưới 30%; trong đó một người yêu cầu khởi tố còn người kia từ chối. Pháp luật hiện hành chưa có quy định và hướng dẫn áp dụng thống nhất cho trường hợp vụ án có nhiều bị hại nhưng ý chí yêu cầu khởi tố mâu thuẫn nhau.

5. Tác giả kiến nghị bổ sung những tội danh nào vào diện chỉ khởi tố khi có yêu cầu của bị hại?
Tác giả kiến nghị bổ sung 04 tội danh ít nghiêm trọng thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu vào diện khởi tố theo yêu cầu khi thiệt hại đã được khắc phục: Tội chiếm giữ trái phép tài sản (khoản 1 Điều 176), Tội sử dụng trái phép tài sản (khoản 1 Điều 177), Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (khoản 1 Điều 178) và Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (khoản 1 Điều 180 BLHS).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hồng Nhung đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và quy định của BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) về chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại. Thông qua việc phân tích chuỗi dữ liệu thực chứng từ Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Hà Giang giai đoạn 2020 – 6 tháng đầu năm 2023, công trình đã phản ánh sát thực cơ cấu tội danh, tỷ lệ xử lý và những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn cơ sở. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng và giải pháp thi hành được đề xuất có căn cứ khoa học, đóng góp thiết thực cho hoạt động tư pháp hình sự tại địa phương.