CHƯƠNG 1 MOT SÓ VẤN ĐẺ LÝ LUẬN VE NGUYEN TAC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM TRONG TÓ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khai niệm và đặc điểm của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được 'bảo đảm trong tố tụng hình sự 1.11 Khải niệm nguyên tắc tranh ting trong xét xử được bảo đâm trong 16 tung hình sự. Theo từ điển tiếng Việt, “nguyên tắc” là diéu cơ ban định ra, nhất thiết phải tuên theo trong một loại việc làm. Trong khoa hoc pháp lý, nguyên tắc của pháp luật là những nguyên lý, tw tưởng chỉ đạo cơ bản có tính chất xuất phat điểm, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt vả có ý nghĩa bao trùm, quyết đính nội dung và hiệu lực của pháp luật. ‘Theo nghĩa Hán Việt thi thuật “tranh tung” được ghép tử hai từ "tranh.
Tuan” vả “tổ tụng”. Tranh tụng được hiểu là tranh luận trong tổ tung, lả hoạt đông của các bên tham gia xét xử đưa ra các quan điểm của mình va tranh. luận lại để bac bố một phân hoặc toàn bộ quan điểm của phía bên kia. Tranh tụng là cơ sở để Tòa án đánh giá toàn bộ nội dung vụ án vả đưa ra phan quyết cuỗi cùng dém bảo tính khách quan, đúng người, đúng tôi, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, đây lả cách hiểu thông thường, và ở khía cạnh nay, thuật ngĩ tranh tụng được dùng để nói chung trong tat các các hình thức tổ tụng như: dân sự, hình sự, hành chính. Tranh tung trong tiếng Anh là từ “A dưersarial" có nghĩa là đổi kháng, đương đầu. Xet về ban chất, tranh tụng là "cuộc đầu” giữa hai bên trong tổ tụng hình sur (bên buộc tôi và bên bi buộc tôi) ma người "Hoỳng Phệ(chùbển) 2023), Từ đấu Méng Việt 0. DA Ning, w 604 Bho Duy Ảnh C09), Ti đến Hin Ft, Ne.
Vin Hóa Tông 477 9 đứng ra phân xử trong cuộc tranh đâu nảy chính là Tòa án. Như vậy, vẫn để tranh tung đã được để cập từ rắt lâu trong lịch sử tư pháp, bản chất của nó la hoạt động đối đáp liên tục giữa các bên có lợi ích đồi kháng nhau trước người trọng tải đóng vai trò phân xử để đi tim chân ly? Theo Từ điển Luật hoc: “Tranh tung tại phiên tòa là hoạt đông tổ hưng được tiễn hành tại phiên 18a bõi hai bên tham gia lỗ tưng nhằm bão vệ ÿ kiến, luận điễm của mỗi bên và bắc bỏ ÿ kiến, luân điễm của bên kia dưới sự điều khiễm, ry Chủ toa phiên tòa với vai trò trang gian trong tài ”. Ban chất của tranh tung là quá trình điều tra công Rhai và tranh luận giữa các bên dưới sự điều khiển của Hội đồng xét xứ dé phân tích, thẩm định, adh gid ching cứ nhằm xác Ginh sự thật khách quan của vụ dn, giúp Tòa án giải qu quan, công bằng, đúng pháp luật" Hiển pháp năm 2013 được ban han, lẫn đầu tiến trong lịch sử lập pháp, nguyên tắc tranh tụng được thừa nhân. Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy đình: “Nguyên tic tranh tụng trong xét xử được bảo dim", được cu thể hóa tại Điều 13 Luật Tổ chức Toa án nhân dân năm 2014 và Điều 26 Bộ luật Tổ tung hình sự năm 2015.
Đây là định hướng chỉ đạo cho việc quy định nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS. Bên cạnh đó, xét vẻ khía cạnh thuật ngữ pháp lý, tranh tung được hiểu theo ba nội dung khác nhau: thứ nhất được hiểu la một mô hình tổ tụng. thir thai được hiểu la mốt nguyên tắc thuộc tổ tung hình sự, thứ ba được hiểu là phương thức, lé giai đoạn thực hiện vai trò của các chức năng đối lập nhau ‘va có quyền ngang nhau trong tổ tụng hình sự hay còn gọi la hoạt động tranh tụng, Dù hiểu theo nghĩa nao thì tranh tung luôn co bản chất la phương thức i tim sự thật khách quan của vụ án mã hoạt động tổ tụng hình sự muốn. “Ips Jhntnr-updiEpasivbkb-ve-ngtyroktecEtgb:site trong bean 2015 + Viên Nghễn cauldwe học pup ý Bộ Replup uaa"), Te đến Tuất lọc ob.
Ne Gn bich oe i No. 7 Trpiáp 10 hướng tới. Theo nhiễu luật gia, phương thức tranh tụng là phương thức có ‘wu điểm nhất trong việc vita có thể tim ra sự thật khách quan của vụ án via có thé bảo vệ hữu hiệu quyển con người của người buộc tội và chẳng oan sai, Đắn nay, chúng ta có thể hiểu khái quát như sau: Theo nghĩa rộng, tranh. tung là một quá trình được bắt đầu từ khi các đương sự thực hiện quyền khối kiện và kết thúc khi ban án, quyết định của Tòa án.
Như vậy, hiểu theo nghĩa xông thì quá trình tranh tụng nay sẽ bao gồm toản bô các giai đoạn khối ie thụ lý vu án, chuẩn bị xét zửxét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạn giám. đốc thẩm, tái thẩm. Theo nghĩa hep, tranh tung là sự doi dap, dau tranh giữa. các bên đương sự với nhau vẻ chứng cứ, yêu cau va phản đổi yêu câu của mỗi bên để từ đó nhằm chứng minh cho đổi phương va Tòa án rằng yêu cầu.
và phan đối yêu cầu cia mình lả có căn cứ và hợp pháp. Khai niêm "tranh tung” lé phạm tra rồng lớn mã trên cơ sỡ nghiên cứu lý luận va xuất phát tử thực tiễn tô tung hình sự, chúng ta có thé đưa ra định. nghia khoa học day đủ của khái niém nguyên tắc tranh tụng của luật tổ tụng. hình sự như sau: Tranh tụng với tính chất la một nguyên tắc của luật tổ tung "hình sự chính là quá tranh luận của các bên tham gia tổ tung tại phiến tòa sau khi đã nghiên cứu day đũ và toàn diên những chứng cứ trên cơ sở dm bảo su độc lập, bình đẳng với nhau va tách riêng ba chức năng buộc tội, biện hộ và phán xét vu án để ac định sự thật khách quan nhằm đưa ra bản án (quyết đính) tương ứng có hiệu lực phép luật, góp phẩn thể hiện bản chất của Tòa án một cách công minh, có căn cứ va đúng pháp luật, gop phân thể hiện ban chất nhân đạo và dân chủ, bảo vệ vững chắc các quyển và lợi ích hợp phép của công dân trong hoat động tư pháp hình sự.
Tóm lại, trong tổ tung hình. sv, tranh tung lả tranh luận, đối đáp trên cơ sở chứng cứ, tai liệu thu thập được giữa Điều tra viên, Kiểm sát viên, người có quyền tiền hảnh tổ tung khác với người bi bất, người bi tạm giữ, bị can, bị cáo, ngườig bảo chữa va người tham gia tổ tụng khác trung tổ tụng hình sự " Tranh tung trong TTHS tổn tại một cách khách quan, không phu thuộc vào y muôn chủ quan của nba lam luật.Du là trong mô hình TTHS nao, cũng luôn tổn tại các chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng tai phần. Sur tên tại khách quan cia chức năng buộc tôi lâm suất hiện chức năng gỡ tội vả nhu câu đối chat, tranh tung giữa hai nhóm chủ thể có quyền vả lợi ích: đối lap nhau nhằm bao vệ lý 1é cia minh, phủ đính, phân bác lý lế của chủ thể đổi lập. Nhà lam luật đù có ghi nhận hay không ghi nhân theo ý muôn chủ quan của mình thì tranh tung van tôn tai là một thuộc tính khách quan của TTHS.
Đây cũng chính là một trong những phương châm có tính định. hướng của hoạt động TTHS, béi tranh tụng được coi là một trong những phương tiện để tim ra sự thật khách quan của vụ án, tái hiện sự thật vụ án. thông qua tranh tung. Do tranh tụng tôn tại khách quan va la một trong những từ tưởng chủ đạo, định hướng, chỉ phối đến quá trình giải quyết vu án hình sự nên hệ quả tat yếu lả nó tồn tại với tính én định cao.
"Trong suốt quả trình tranh tụng, bên buộc tội vả bên bao chữa có thể liên tục trao đổi những lập luận, chứng cứ, lý 1€ để bảo vệ quyền và lợi ích của ‘minh, cũng có khi một bên im lăng lắng nghe đối phương trình bảy rồi mới tìm ra những bất hợp lý của ho lam cơ sỡ cho những lập luận của minh, Bão đảm nguyên tắc tranh tụng nhằm bão vệ quyển hạn va trách nhiệm của các chủ thể tham gia tổ tụng không thể thực hiện được khi chỉ có một bên nao đó. hoặc chi có cơ quan chức năng phát hiện có tôi phạm, bão đảm cho các bên có thể chủ đồng ding các phương tiện pháp luật cho phép để thu thập va xuất trình chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình, chủ đông sắc định các van dé on tim hiễu, cén phải làm rõ để thuyết phục TA. Tranh tung tạo điển kiên và cơ hội ngang nhau cho các bên trình bay quan điểm, lý 1é va phan tranh luận của mink tai phiên tòa Nhu vậy, chúng ta co thể hiểu nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bao có nôi dung: Hoạt động xét xử phải bảo đầm tranh tụng giữa Kiểm. 12 sat viên, bi hai, nguyên đơn dân sự với bị cáo, người bảo chữa, bị đơn dân.
su, giữa các đương sự với nhau và những người này có quyển bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tải liệu, đỏ vat, yêu cầu, đưa ra các luận điểm, luận cứ, luôn chứng của minh, bình đẳng trong việc đổi đáp, tranh luôn, chứng minh bác bé quan điểm lẫn nhau. Nguyên tắc tranh tung trong TTHS Ja định hướng cho tắt cả các chủ thể THTT và tham gia tổ tung trong mọi hoạt động và hành vi tổ tung theo luật định được tranh tung trên cơ sở bình đẳng bằng lý lẽ dựa trên những chứng cứ, quy đính pháp luật nhằm thực hiện chức năng buộc tôi hoặc chức năng bảo chữa, là cơ sở để TA giữ vai trò trung, tâm, độc lập với chức năng tai phán ra phán quyết áp dung pháp luật có hiệu tực thi hành, kết thúc quá trình giải quyết vụ án hình sự cụ thể. Bao đảm nguyên tắc tranh tụng mỡ ra cơ hội cho các bên tham gia tô tung. Bên buộc tội, bên bảo chữa déu có quyển chủ động sác định các vẫn để cần chứng minh, trên cơ sở đó có thé tự tiền hảnh điều tra, thu thập chứng, cứ cẩn thiết, triệu tập nhân chứng để phản bác lại quan điểm của phía đối phương và khẳng định lý lẽ của mảnh trước tòa.
Moi chứng cứ, lý lẽ được thu thập, xuất trình tại phiên tòa theo đúng trình tự pháp lý được TA. chấp nhận sẽ là căn cứ cho phán quyết cuỗi cùng má không phân biệt là do bén nao đưa ra.