Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ VÀ ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra Theo giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội năm 2018 thì: “Điều tra là giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền điều tra áp dụng mọi biện pháp do luật định để xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án” [36, tr. Giai đoạn điều tra giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự mà trong đó cơ quan Điều tra áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố chứng cứ để chứng minh tội phạm, xác định người thực hiện hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, xác định thiệt hại do tội phạm gây ra và các tình tiết ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người thực hiện tội phạm, đồng thời đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên. Trên cơ sở kết quả điều tra, CQĐT ra Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra trong trường hợp có căn cứ do pháp luật quy định.
Nói cách khác, kết quả điều tra chính là cơ sở để Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án hoặc Quyết định khác để giải quyết vụ án, từ đó là cơ sở để Tòa án xét xử đúng người đúng tội. Không có kết quả điều tra của giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát không thể truy tố, Tòa án không thể xét xử vụ án và vụ án không thể được giải quyết một cách xác đáng. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện hoạt động điều tra, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà việc điều tra không thể tiếp tục tiến hành được, nếu vẫn điều tra sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can hoặc làm cho kết quả điều tra không chính xác. Đó là các trường hợp việc khởi tố vụ án không có căn cứ hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội 7 luan an phạm, thì CQĐT ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.
Nếu cơ quan điều tra phát hiện bị can bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của hội đồng giám định pháp y hoặc không xác định được bị can hoặc không biết bị can đang ở đây theo quy định của BLTTHS, cơ quan điều tra phải ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra [36, tr. Thông qua những quy định về tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra, cơ quan điều tra tạm ngừng hoặc kết thúc hoạt động điều tra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, người bị hại. Khái niệm và đặc điểm của tạm đình chỉ điều tra 1. Khái niệm tạm đình chỉ điều tra Hiện nay, trong BLTTHS chỉ có quy định về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự mà chưa đưa ra khái niệm thế nào là tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự.
Do vậy, ở mỗi góc độ tiếp cận vấn đề khác nhau, mỗi nhà lý luận và thực hiễn đưa ra những quan niệm khác nhau về khái niệm tạm đình chỉ điều tra. Theo đó, các quan niệm này cũng có phạm vi khái niệm cũng như tính khoa học, tính thực tiễn phù hợp với khái niệm khác nhau. Trong Đại từ điển Tiếng Việt thì từ “tạm” có nghĩa là “chỉ trong một thời hạn ngắn và sẽ còn thay đổi”[47, tr. Theo Từ điển Bách khoa thì “Tạm đình chỉ điều tra là việc Cơ quan điều tra ra quyết định ngừng việc điều tra đối với một hoặc một số bị can”[37, tr.1050] Theo Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội thì “Tạm đình chỉ điều tra là tạm ngừng việc tiến hành điều tra đối với vụ án hoặc đối với từng bị can trong một thời điểm nhất định”[36, tr.316] Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Học viện An ninh nhân dân thì nhận định: “Tạm đình chỉ điều tra là việc Cơ quan điều tra tạm ngừng các hoạt động điều tra đối với toàn bộ hoặc một phần vụ án khi có những căn cứ do Bộ luật tố tụng hình sự quy định”[15, tr.257] Theo Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì “Tạm đình chỉ điều tra là tạm ngừng việc tiến hành điều tra đối với toàn bộ vụ án hoặc đối với một hoặc một số bị can của vụ án đó trong thời hạn nhất định.
Thời hạn tạm đình 8 luan an chỉ điều tra tùy thuộc vào căn cứ tạm đình chỉ điều tra của vụ án hoặc đối với bị can. Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra chính là cơ quan đang tiến hành điều tra vụ án. Cơ quan này không được tùy tiện ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, mà phải căn cứ vào quy định của pháp luật”[2, tr.225] Nhìn chung phần lớn các quan điểm trên đều đưa ra được một khái niệm chính xác và đầy đủ nhất về tạm đình chỉ điều tra. Các quan điểm này hoặc là chưa chính xác, chưa thể hiện rõ được bản chất pháp lý, chủ thể có thẩm quyền ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra, cho rằng: Tạm đình chỉ điều tra chỉ đơn giản là hình thức tạm ngừng vụ án hình sự ở giai đoạn điều tra hoặc là chỉ ra đối tượng tạm đình chỉ điều tra là vụ án và bị can, chỉ ra hậu quả pháp lý của Quyết định tạm đình chỉ điều tra là làm ngừng các hoạt động điều tra nhưng chưa chỉ ra được chủ thể có thẩm quyền ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra.
Về mặt pháp lý tạm đình chỉ điều tra là việc tạm dừng hoạt động tố tụng đối với vụ án hoặc từng bị can trong vụ án. Trong quá trình điều tra, có thể xảy ra ba trường hợp sau: Thứ nhất, khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp không biết cụ thể bị can đang ở đâu thì CQĐT phải ra quyết định truy nã trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra nhưng hết thời hạn điều tra mà vẫn chưa bắt lại được; Thứ hai, bị can bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh hiểm nghèo có kết luận giám định tư pháp của đơn vị có thẩm quyền; Thứ ba, khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trong những trường hợp như vậy không thể tiếp tục tiến hành tố tụng mà CQĐT, Cơ quan có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ điều tra để chờ cho bị can khỏi bệnh, xác định được người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp chưa xác định được bị can, bắt được bị can trong trường hợp bị can đang bị truy nã hoặc nhận được kết quả tương trợ tư pháp.
Tại điểm g, khoản 2, Điều 39 BLTTHS 2015 quy định khi tiến hành tố tụng hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng 9 luan an cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng, những người quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 35 của Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn: “g) Kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra và quyết định đinh; quyết định phục hồi điều tra”. Do vậy, theo quy định của pháp luật, cấp trưởng hoặc cấp phó (được ủy quyền) của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có thẩm quyền quyết định đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra. Từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về tạm đình chỉ điều tra như sau: Tạm đình chỉ điều tra là biện pháp tố tụng mà cơ quan điều tra, cơ quan có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra áp dụng để tạm ngừng hoạt động điều tra đối với vụ án hoặc đối với bị can khi có căn cứ theo quy định của BLTTHS bằng việc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra. Đặc điểm của tạm đình chỉ điều tra Từ khái niệm tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, chúng ta có thể nhận thấy tạm đình chỉ điều tra có những đặc điểm sau: Thứ nhất: Đối tượng của tạm đình chỉ điều tra là vụ án và bị can.
Đối với trường hợp vụ án có nhiều bị can mà có căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ đối với một hoặc một số bị can và việc tạm đình chỉ đối với một hoặc một số bị can đó không làm ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án hình sự thì CQĐT ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can khi có căn cứ tạm đình chỉ. Khi quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT sẽ tạm ngừng các hoạt động điều tra đang tiến hành đối với vụ án hoặc đối với một số bị can cho tới khi có căn cứ để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra (bị can đã chữa trị khỏi bệnh hoặc đã xác định được bị can hoặc bắt được bị can bỏ trốn). Hai là: Tạm đình chỉ điều tra là Quyết định thuộc thẩm quyền của CQĐT trong giai đoạn điều tra. Tạm đình chỉ điều tra là hoạt động tố tụng được pháp luật tố tung sự quy định cho cơ quan điều tra nhằm tạm ngừng các hoạt động điều tra khi xuất hiện 10 luan an những lí do khách quan không thể tiếp tục tiến hành các hoạt động điều tra, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can.
Ba là: Quyết định tạm đình chỉ điều tra chỉ được thực hiện khi có căn cứ luật định. Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định cụ thể về các căn cứ tạm đình chỉ điều tra. Khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, cơ quan điều tra phải chỉ rõ căn cứ đã áp dụng để tạm đình chỉ điều tra.