phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp và khái quát về Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp ở Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam 6 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ KHÁI QUÁT VỀ TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhan loại. Phạm trù văn hóa rất đa dạng và phức tạp.
Nó là một khái niệm có rất nhiều nghĩa đƣợc dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau về đối tƣợng, tính chất, và hình thức biểu hiện. Theo nghĩa gốc của từ điển Ở Phƣơng Tây, văn hóa – culture (trong tiếng Anh, tiếng Pháp, hay Kultur (tiếng Đức)…đều xuất xứ từ chữ Latinh – Cultus có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nam cây lƣơng thực. Sau đó từ cultus đƣợc mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đoa tạo và phát triểm mọi khả năng của con ngƣời. Ở Phƣơng Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hóa hàm ý nghĩa “văn” là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con ngƣời có thể đạt đƣợc bằng sự tu dƣỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền.
Còn chữ “hóa” là đem đến cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hóa, giáo dục và thực hiện hóa trong thực tiễn, đời sống. Vậy, Văn hóa chính là nhân hóa hay nhân văn hóa. Nhƣ vậy, văn hóa trong từ nguyên của cả phƣơng Đông và phƣơng Tây đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con ngƣời (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài ngƣời), cũng có nghĩa là làm cho con ngƣời và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. 7 Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu Theo phạm vi nghiên cứu rộng, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
Do đó, nói đến văn hóa là nói đến con ngƣời – nói tới những đặc trƣng riêng chỉ có ở loài ngƣời, nói tới việc phát huy những năng lực và bản chất của con ngƣời nhằm hoàn thiện con ngƣời. Cho nên, theo nghĩa này, văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con ngƣời dù đó chỉ là những suy nghĩ thầm kín, những cách giao tiếp ứng xử cho đến những hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội. Hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm giáo dục con ngƣời khát vọng hƣớng tới chân - thiện - mỹ và khả năng sáng tạo chân – thiện – mỹ trong đời sống. Theo UNESCO “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trƣng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm…khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuaatjm văn chƣơng mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngƣỡng…” Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ vì mục đích cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hnafg ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng tiện, phƣơng thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hía.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhẳm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn”.Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi ngƣời ta đã quên di tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi ngƣời ta đã học tất cả”. Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh thần của con ngƣời. Trong phạm vi này, văn hóa khoa học và văn hóa nghệt thuật đƣợc coi 8 là hai phân hệ chính của hệ thống văn hóa. Theo nghĩa hẹp hơn nữa, văn hóa đƣợc coi nhƣ một ngành – ngành văn hóa – nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế - kỹ thuật khác.
Căn cứ theo hình thức biểu hiện Văn hóa đƣợc phân thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, hay nói đúng hơn, theo cách phân loại này văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Các đền chùa, cảnh quan, di tích lịch sử cũng nhƣ các sản phảm văn hóa truyền thống nhƣ tranh Đông Hồ, gốm Bát Tràng, áo dài, áo tứ thân … đều thuộc loại hình văn hóa vật thể. Các phong tục, tập quán, các làn điệu dân ca hay bảng giá trị, các chuẩn mực đạo đức của một dân tộc…là thuộc loại hình văn hóa phi vật thể. Tuy vậy, sự phân loại trên cũng chỉ có nghĩa tƣơng đối bởi vì trpng một sản phẩm văn hóa thƣờng có cả yếu tố “vật thể” và “phi vật thể” nhƣ “cái hữu hình và cái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau, nhƣ thân xác và tâm trí con ngƣời”.
Điển hình nhƣ trong không gian văn hóa cồng chiêng của các dân tộc Tây nguyên, ẩn sau cái vật thể hữu hình của nó gồm những cồng, những chiêng, những con ngƣời núi rừng, những nhà sàn, nhà rông mang đậm bản sắc…là cái vô hình của âm hƣởng, phong cách và quy tắc chơi nhạc đặc thù, là cái hồn của thời gian, không gian và các giá trị lịch sử. Nhƣ vậy, khái niệm văn hóa rất rộng, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần đƣợc sử dụng làm nền tảng định hƣớng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên để vƣơn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, trong mối quna hệ giữa ngƣời và ngƣời, giữa ngƣời với tự nhiên và moi trƣờng xã hội. Khái niệm: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài ngƣời tạo ra trong quá trình lịch sử”. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Trong một xã hội rộng lớn, mỗi doanh nghiệp đƣợc coi là một xã hội thu nhỏ.
Xã hội lớn các nền văn hóa chung, xã hội nhỏ (doanh nghiệp) cũng cần xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng. Nền văn hóa ấy chịu ảnh hƣởng và đồng thời cũng là bộ phận cấu thành nên nền văn hóa chung: Nhƣ Edgar Schein, một nhà quản trị nổi tiếng ngƣơi Mỹ đã nói: “Văn hóa doanh nghiệp gắn với văn hóa xã hội, là một bƣớc tiến của văn hóa xã hội, là tầng sâu của văn hóa xã hội. Văn hóa doanh nghiệp đòi hỏi vừa chú ý tới năng suất và hiệu quả sản xuất, vừa chú ý tới quan hệ chủ thợ, quan hệ giữa ngƣời với ngƣời. Nói rộng ra, nếu toàn bộ nền sản xuất đều đƣợc xây dựn trên một nền văn hóa doanh nghiệp có trình độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc, vừa thích ứng với thời đại hiện nay”.
Vào đầu những năm 70, sau sự thành công rực rỡ của các công ty Nhật Bản, các công ty Mỹ bắt đầu chú ý tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thành công đó. Cụm từ “Corporate culture/ organizational culture” (văn hóa doanh nghiệp, còn gọi là văn hóa xí nghiệp, văn hóa công ty) đã đƣợc các chuyên gia nghiên cứu về tổ chức và các nhà quản lý sử dụng để chỉ một trong các tác nhân chủ yếu dẫn đến sự thành công của công ty Nhật trên khắp Thế giới. Đầu thế kỷ 90. Ngƣời ta bắt đầu đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về nhân tố cấu thành những tác động to lớn của văn hóa đối với sự phát triển của một doanh nghiệp.
Đã có rất nhiều khái niệm văn hóa doanh nghiệp đƣợc đƣa ra nhƣng cho đến nay vẫn chƣa có. một định nghĩa nào đƣợc công nhận. Ông Georger de Saite Marie, chuyên gia ngƣời Pháp về doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tƣợng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, dạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp:. Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization – ILO): “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt 10 các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xửa và nghi lễ mà toàn bộ chúng ta là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”.
Tuy nhiên, định nghĩa phổ biến và đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “Văn hóa công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học đƣợc trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trƣờng xung quanh”. Các khái niệm trên đều đề cập đến những nhân tố tinh thần của văn hóa doanh nghiệp nhƣ: Các quan niệm chung, các giá trị, các huyền thoại, nghi thức…của doanh nghiệp nhƣng chƣa đề cập đến nhân tố vật chất – nhân tố quan trọng của văn hóa doanh nghiệp. Do đó, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả và hệ thống nghiên cứu logic về văn hóa và văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phƣơng pháp tƣ duy đƣợc mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hƣởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”. Những biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp đƣợc biểu hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣng thƣờng hƣớng tới việc hình thành một tập hợp các khu ôn mẫu hành vi đƣợc áp dụng trong các mối quan hệ xã hội.
Khuôn mẫu hành vi này có thể đƣợc sử dụng để phản ánh bản sắc văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp trong một doanh nghiệp tồn tại ở hai hình thức biểu hiện: trực quan và phi trực quan. Các biểu hiện trực quan là những gì có thể dễ dàng nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy.