CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Các khái niệm cơ bản về thị trường chứng khoán: 1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán Sách giáo trình Kinh tế Chính trị Mác-Lênin định nghĩa thị trường chứng khoán như sau: “Thị trường chứng khoán là thị trường mua bán các loại chứng khoán là các loại giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu,công trái, kỳ phiếu, tín phiếu, văn tự cầm cố, các loại chứng chỉ quỹ đầu tư,.” và nhận định: “Thị trường chứng khoán là loại thị trường rất nhạy với các biến động kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự., là "phong vũ biểu" của nền kinh tế. Giá cả chứng khoán tăng biểu hiện nền kinh tế đang phát triển, ngược lại, giá cả xuống biểu hiện nền kinh tế đang sa sút, khủng hoảng.” Ngoài ra, theo giáo trình Kinh tế Chính trị còn có khái niệm quan trọng liên quan đến thị trường chứng khoán là tư bản giả, đây là loại “tư bản tồn tại dưới hình thức chứng khoán có giá, nó mang lại thu nhập cho người sở hữu chứng khoán đó. Tư bản giả bao gồm hai loại chủ yếu:cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành và trái phiếu do công ty hoặc do ngân hàng hay nhà nước phát hành.” Dễ thấy rằng tư bản giả là chứng khoán nhưng điều ngược lại không đúng, tuy nhiên khóa luận này chủ yếu xét các biến động của giá cổ phiếu trên thị trường thứ cấp do đó, trong phạm vi bài viết này ta có thể áp dụng định nghĩa của tư bản giả khi nói đến chứng khoán. Cũng theo giáo trình này, Tư bản giả có các đặc điểm sau: (1) Có thể mang lại thu nhập cho người sở hữu nó, (2) Có thể mua bán được, (3) Bản thân tư bản giả không có giá trị.
Sự vận động 6 của nó hoàn toàn tách rời với sự vận động của tư bản thật. Nó có thể tăng hay giảm mà không cần có sự thay đổi tương đương của tư bản thật. Theo giáo trình Thị trường chứng khoán của Học viện Tài chính định nghĩa: “Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Nhà nước để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư.” Thị trường chứng khoán thường được chia thành hai thị trường dựa theo dòng vốn luân chuyển: thị trường sơ cấp, nơi các chứng khoán mới phát hành được giao dịch và thị trường thứ cấp nơi trao đổi các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Ta có thể hình dung vị trí của thị trường chứng khoán trong cấu trúc của thị trường tài chính như sau: Hình 1 Sơ đồ vị trí thị trường chứng khoán (Như đã đề cập, do hạn chế về thời gian và kiến thức nghiên cứu, khóa luận này có phạm vi phân tích chủ yếu là biến động giá cổ phiếu và các chỉ số mang tính đại diện trên thị trường thứ cấp.) Để phù hợp với mục đích nghiên cứu về bản chất của thị trường chứng khoán và mối quan hệ của thị trường này với nền kinh tế Việt Nam, khóa luận này sử dụng định nghĩa theo giáo trình Kinh tế Chính trị: thị trường chứng khoán là nơi mua bán chứng khoán (tư bản giả) và thị trường này phản ảnh kỳ vọng của nhà đầu tư về lợi nhuận tương lai của công ty và do đó không nhất thiết “thay đổi tương đương với tư bản thật”.2 Đặc điểm, tính chất của thị trường thứ cấp Là một đối tượng phức tạp rộng lớn, thị trường chứng khoán có nhiều đặc điểm nếu phân tích sâu sắc, nhưng ở đây ta sẽ xét một số đặc trưng cơ bản có liên quan đến đề tài này: Thị trường chứng khoán có tính trực tiếp: với sự hỗ trợ của tiến bộ công nghệ ngày nay, khoảng cách địa lý và giới hạn thông tin giữa người cần vốn và người có nhu cầu đầu tư bị xóa bỏ, nhà đầu tư, công ty, chính phủ,.
đều dễ dàng trực tiếp tham gia vào thị trường nhằm phát hành, giao dịch chứng khoán mà không thông qua một trung gian tài chính nào (so với thị trường tài chính ngắn hạn: người tham gia phải thông qua ngân hàng và chịu một mức lãi suất nhất định) Thị trường chứng khoán gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo: hàng hóa của thị trường chứng khoán là các cổ phiếu, trái phiếu, hợp đồng tương lai,. về cơ bản là không khác nhau. Tức là các cổ phiếu được một công ty phát hành đều có giá trị, chất lượng như nhau không phân biệt giữa các người bán. Điều kiện gia nhập thị trường chứng khoán rất dễ thỏa mãn, người mua và người bán các loại chứng khoán có thể tự do tham gia vào thị trường chứng khoán.
Hơn nữa, biến động trong giá chứng khoán dựa hoàn toàn vào mối quan hệ cung cầu của thị trường. Song, thị trường chứng khoán chưa phải là thị trường cạnh tranh hoàn hảo vì tình trạng thông tin bất cân xứng có thể xảy ra như lợi thế từ thông tin sớm, nhà đầu tư nhỏ lẻ bị bất lợi trước các cổ đông lớn,. Là một thị trường liên tục: thị trường chứng khoán cung cấp tính thanh khoản, giúp nhà đầu tư có khả năng thanh lý chứng khoán họ nắm giữ thành tiền mặt bất cứ lúc nào. Vì thế sau khi nhà đầu tư mua chứng khoán được phát hành lần đầu ở thị trường sơ cấp, họ có thể bán lại cho nhà đầu tư khác sau đó chứng khoán này có thể được giao dịch nhiều lần trên thị trường thứ cấp.
Do đó, khối lượng giao dịch và tần suất giao dịch lớn hơn thị trường sơ cấp rất nhiều lần. Khả năng phản ánh các thông tin liên quan: giá cả của chứng khoán phụ thuộc vào kỳ vọng của nhà đầu tư về lợi tức trong tương lai. Có nhiều yếu tố khiến sự kỳ vọng của nhà đầu tư thay đổi như: tình hình hoạt động của doanh nghiệp, các yếu tố kinh tế vĩ mô, các chính sách, luật, thuế được triển khai, các sự kiện ảnh hưởng đến kinh tế, ngành nghề… do vậy có thể nói biến động trong thị trường chứng khoán phản ánh một phần tình hình kinh tế xã hội. Hơn nữa, với nhịp độ giao dịch và khối lượng giao dịch khổng lồ mỗi ngày, tốc độ phản ứng của giá chứng khoán với các thông tin liên quan là rất nhanh.4 Các chỉ số chứng khoán Các chỉ số quan trọng mà tất cả thị trường chứng khoán đều công bố công khai đó là chỉ số giá, khối lượng giao dịch, giá trị giao dịch, tổng giá trị thị trường, vòng quay 8 vốn và vòng quay cổ phiếu.
Các chỉ số trên được công bố nhằm cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư về sự biến động và mức độ hoạt động của thị trường chứng khoán. Các chỉ số thị trường đóng vai trò như các công cụ giúp nhà đầu tư hình dung được toàn cảnh sự vận hành của thị trường chứng khoán (thường là với tần suất hằng ngày). Trong đó, tổng giá trị thị trường là tổng số vốn cổ phần tính theo giá thị trường được mua bán trên thị trường chứng khoán. Chỉ số này thể hiện quy mô của thị trường chứng khoán và được tính bằng công thức sau: V=∑𝑛𝑖=1 𝑆𝑖.
𝑃𝑖 (V: tổng giá trị thị trường, Pi: giá thị trường của cổ phiếu i, Si: số lượng cổ phiếu i, i: loại cổ phiếu) Khối lượng giao dịch là số lượng cổ phiếu được giao dịch trên thị trường, giá trị giao dịch là giá trị của số chứng khoán được mua bán trên thị trường. Hai chỉ số này cho thấy cường độ hoạt động của thị trường. Các dữ liệu này quan trọng vì dữ liệu của chúng trong lịch sử cho thấy gia tăng trong khối lượng giao dịch dẫn đến giá chứng khoán cũng có xu hướng tăng theo. Vòng quay vốn phản ánh tần suất giao dịch cổ phiếu của thị trường được xác định bằng thương số giữa tổng giá trị cổ phiếu được giao dịch và tổng giá trị thị trường của cổ phiếu đó.
Chỉ số cuối cùng nhưng quan trọng nhất là chỉ số giá: được thiết kế để đo lường sự thay đổi trong giá cả chứng khoán trên thị trường. Có thể khái quát cách xác định chỉ số giá là tổng giá trị thị trường của số chứng khoán trong mẫu quan sát ở thời điểm t chia cho tổng giá trị thị trường của số chứng khoán ấy ở thời điểm gốc.𝑃𝑖𝑡 Chỉ số giá = 𝑛 × 100 ∑𝑖=1 𝑆𝑖0.𝑃𝑖0 (n: số loại chứng khoán trong mẫu quan sát; S: số lượng cổ phiếu; P: giá thị trường cổ phiếu I; t: ở thời điểm t; 0: ở thời điểm gốc) Ở Việt Nam, vào ngày 28 tháng 7 năm 2000, phiên giao dịch chứng khoán đầu tiên của Việt Nam đã được thực hiện ở thành phố Hồ Chí Minh. Đây là cột mốc quan trọng đánh dấu sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam. Cùng với sự kiện này chỉ số giá chứng khoán VN-index (VNI) được công bố.
Công thức của VNI được xác định: 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑐á𝑐 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 ℎ𝑖ệ𝑛 ℎà𝑛ℎ 𝑡ạ𝑖 𝑡ℎờ𝑖 đ𝑖ể𝑚 𝑡í𝑛ℎ 𝑡𝑜á𝑛 VNI=𝑇ổ𝑛𝑔 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑐á𝑐 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 𝑛𝑖ê𝑚 𝑦ế𝑡 ở ×100 𝑛𝑔à𝑦 𝑔ố𝑐 (𝑛𝑔à𝑦 𝑐ơ 𝑠ở) Ngày 28 tháng 7 năm 2000 cũng là ngày được lấy làm ngày cơ sở cho chỉ số VNI do đó, theo công thức, giá trị của VNI vào ngày này là 100. 9 VN Index là đại lượng chỉ ra sự biến động giá cả toàn bộ các loại chứng khoán được niêm yết ở một ngày cụ thể so với thời điểm gốc. Cũng như phẩn trên đã nêu, để duy trì tính liên tục của chỉ số, trong quá trình tính toán chỉ số phải loại trừ các yếu tố làm thay đổi cơ cấu số cổ phiếu niêm yết có thể ảnh hưởng đến giá trị chỉ số như công ty niêm yết phát hành thêm cổ phiếu mới bán ra để tăng thêm vốn hoặc có thêm doanh nghiệp dược niêm yết hay có doanh nghiệp bị huỷ bỏ niêm yết v. Vì thế, khi phát sinh các yếu tố này phải tính điều chỉnh lại tổng giá trị thị trường thời điểm gốc.
VN-index đo lường biến động giá của chứng khoán ở thời điểm hiện tại so với thời điểm gốc. Do vậy sự tăng giảm trong chỉ số này chỉ ra cho thấy hành vi thể hiện kỳ vọng của nhà đầu tư về triển vọng của các doanh nghiệp trong tương lai là bi quan hay lạc quan từ đó VN-index gián tiếp thể hiện viễn cảnh suy thoái hay tăng trưởng kinh tế trong tương lai gần.