Chương 1: Tổng quan lý thuyết về sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào giá tiêu dùng. Chương 2: Dữ liệu nghiên cứuvà mô hình nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Những đóng góp của luận văn - Thứ nhất, luận văn đã xác định được mức độ truyềndẫn của tỷ giá hối đoái vào giá tiêu dùng trong giai đoạn nghiên cứu tại Việt Nam. 1 - Thứ hai, luận văn cũng đã lượng hóa được mức độ tác động của các yếu tố vĩmô vào giá cả tiêu dùng Việt Nam.
- Thứ ba, luận văn cung cấp thêm một khía cạnh tham khảo cho việc nghiên cứu kinh tế tại Việt Nam. 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ SỰ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀO GIÁ TIÊU DÙNG 1.1Sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào giá cả trong nƣớc 1.1 Sự truyền dẫn của tỷ giá vào giá nhập khẩu Sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào giá nhập khẩu được hiểu là phần trăm thay đổi giá cả hàng hóa nhập khẩu tính theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu từ việc thay đổi một phần trăm của tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của quốc gia nhập khẩu và đồng tiền của quốc gia xuất khẩu. Theo thuyết Ngang giá sức mua (PPP), một lý thuyết được phát triển vào năm 1920 bởi Gustav Cassel. Đây là một phương pháp điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa hai tiền tệ để cân bằng sức mua của hai đồng tiền này.
Lý thuyết ngang giá sức mua chủ yếu dựa trên quy luật giá cả, và giả định rằng trong một thị trường hiệu quả, mỗi loại hàng hoá nhất định chỉ có một mức giá. Công thức tính ngang giá sức mua như sau: S=P1/P2 Trong đó: S: là tỉ lệ trao đổi giữa đồng tiền 1 với đồng tiền 2 P1: là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 1 P2: là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 2 Như vậy theo PPP thì EPRT vào giá cả hàng hóa là toàn phần. Tuy nhiên trên thực tế có nhiều nguyên nhân khiến tỷ giá lệch khỏi PPP, một trong những nguyên nhân đó là chi phí vận chuyển và phân phối theoObstfeld & Rogoff (2000).2 Cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá tiêu dùng 1 Theo Bailliu và Bouakez (2004), cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ sốgiá tiêu dùng gồm 02 bước: - Thứ nhất, sự thay đổi của tỷ giá sẽ được truyền dẫn vào chỉ số giá nhập khẩu,mức độ và tốc độ của truyền dẫn vào chỉ số giá nhập khẩu phụ thuộc vào mộtvài yếu tố: kỳ vọng về thời điểm phá giá, chi phí của việc điều chỉnh giá vànhu cầu hàng nhập khẩu… - Thứ hai, sự thay đổi của chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng. Mức độ chỉ số giá tiêu dùng bị ảnh hưởng phụ thuộc vào tỷlệ của các hàng hóa nhập khẩu này trong rổ hàng hàng hóa tính chỉ số giátiêu dùng, ngoài ra, mức độ truyền dẫn vào chỉ số giá tiêu dùng phụthuộc vào các yếu tố: sự phá giá đồng nội tệ sẽ làm cho giá hàng hóa nhậpkhẩu cao, từđó làm gia tăng nhu cầu hàng hóa nội địa.
Điều này sẽ tạo sứcép tăng giá hàng hóa nội địa và tăng lương, nếu giá cả hàng hóa và lươngtăng sẽ tiếp tục tạo sức ép lên chỉ số giá tiêu dùng trong nước. Theo Bạch ThịPhương Thảo (2011), sự ảnh hưởng của chỉ số giá nhập khẩu vào chỉ số giátiêu dùng theo 01 trong 02 cách sau: - Nếu hàng hóa nhập khẩu được dùng cho mục đích tiêu dùng cuốicùng, chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng. - Nếu hàng hóa nhập khẩu là nguyên nhiên phụ liệu được dùng cho quátrình sản xuất thì chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá sảnxuất và thông qua đó ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng.2Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự truyền dẫn của tỷ giá Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự truyền dẫn của tỷ giá, trong bài này tác giả đề cập đến một số yếu tố thường được các nhà nghiên cứu quan tâm như sau: 1 1.1 Mức độ biến động của tỷ giá hối đoái Khi xảy ra sự biến động của tỷ giá hối đoái của đồng tiềnquốc gia nhập khẩu, nếu các công ty xuất khẩu cho rằng sự biến động này chỉ là tạmthời thì công ty xuất khẩu sẽ chấpnhận giảm lợi nhuận để không điều chỉnh giá bán hàng hóa vì việc điều chỉnh giáhàng hóa sẽ phải phát sinh thêm các chi phí khác. Trongtrường hợp này mức độ truyền dẫn của tỷ giá có mối quan hệ ngược chiều với sựbiến động của tỷ giá.Ngược lại, nếu như các công ty xuất khẩu nhận thấy rằng sựbiến động này sẽ kéo dài và tồn tại lâu thì sẽ điều chỉnh giá bán.Trong trường hợpnày mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái sẽ có mối quan hệ cùng chiều với mức độbiến động của tỷ giá hối đoái.Như vậy mức độ biến động của tỷ giá hối đoái có thể có mối tương quan thuận, cũng có thể có mối tương quan nghịch với mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào giá cả hàng hóa.2 Chính sách tiền tệ và lạm phát trong nƣớc Theo McLeod (2003): Xem xét tiền cơ sở tác động đến cú sốc chính sách tiền tệ, cho rằng,lạm phát cao của Indonesia sau cuộc khủng hoảng tiền tệ chủ yếu gây ra bởisự gia tăng tiền cơ sở, hệ quả của các chính sách tiền tệ của Ngân hàng Indonesia.Bernanke và các cộng sự (1999):cho rằng duy trì một mục tiêu lạm phát trên 0% nhưng không quá cao (dưới 3%), trong khoảng thời gian dài không dẫn đến sự bất ổn trong kỳ vọng lạm phát của công chúng hoặc làm giảm sự tín nhiệm của NHTW.
Môi trường lạm phát cũng ảnh hưởng đến phản ứng giá đối với các thay đổi trong tỷ giá (Taylor, 2000). Ca 'Zorzi, Hahn và Sánchez (2007): một môi trường lạm phát tăng ERPT và ngược lại. Xu hướng giảm gần đây trong ERPT 1 quan sát thấy trong nghiên cứu, như lập luận của Taylor (2000), trùng hợp với một sự thay đổi môi trường lạm phát thấp (gọi là giả thuyết của Taylor).3 Độ chênh lệch sản lƣợng Độ chênh lệch sản lượng có thể có mối liên hệ ngược chiều hoặc cùng chiều với sự truyền dẫn của tỷ giá. Trong một nền kinh tế lớn, khi sản sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng, tỷ lệ thấtnghiệp trong nền kinh tế cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, nhu cầu về hàng hóanhập khẩu giảm qua đó có thể làm giảm giá hàng nhập khẩu.
Trong trường hợp này,mối quan hệ giữa độ chênh sản lượng và mức truyền truyền dẫn lànghịch. Ngược lại, khi sản lượng thực tế của nền kinh tế cao hơn mức tiềm năng,một mặt nhu cầu về hàng hóa gia tăng qua đó làm tăng giá tiêu dùng; mặt khác khisản lượng thực tế cao hơn sản lượng tiềm năng các doanh nghiệp gặp phải vấn đề vềgiới hạn sản xuất, phải đầu tư thêm làm chochi phí sản xuất tăng lên, qua đó cũng làm tăng giá tiêu dùng của hàng hóa. Trongtrường hợp này, độ chênh sản lượng sẽ có mối quan hệ cùng chiều vớimức độ truyền dẫn.4 Độ mở cửa thƣơng mại Độ mở cửa thương mại có thể tác động cùng chiều hoặc ngược chiều với mức độ truyền dẫn tỷ giá. Độ mở cửa thương mại càng lớn thì hàng hóa xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng càng cao trong nền kinh tế, lúc này giá cả hàng hóa chịu tác động lớn tỷ giá hối đoái nên mức độ truyền dẫn cao, nhưng mặt khác, sự mở cửa thương mại cao sẽ tạo ra xu hướng giảm giá cả hàng hóa do canh tranh gay gắt, vì thế sự truyền dẫn tỷ giá trong trường hợp này lại ngược chiều.
Độ mở cửa thương có vai trò chi phối so với môi trường lạm phát trong sự truyền dẫn của tỷ giá theo nghiên cứu củaNiloufer Sohrabji (2011) về sự 1 truyền dẫn của tỷ giá lên giá cả ở Ấn Độ qua các thời kỳ khác nhau của việc mở cửa thương mại và thay đổi chính sách tiền tệ.5 Thành phần hàng hóa nhập khẩu Hàng hóa khác nhau thì mức độ truyền dẫn tỷ giá lên giá cả sẽ khác nhau.Thông thường, giá nhiên liệu mà cụ thể là giá xăng, dầu sẽ bị mức độ truyền dẫn tỷ giá cao hơn.Một quốc gia có tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu lớn thì mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào giá cả sẽ lớn.3 Các nghiên cứu trƣớc đây 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, các nhà nguyên cứu kinh tế đã sử dụng các phương pháp khác nhau để nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào chỉ sốgiá, cũng như các yếu tố tác động đến sự truyền dẫn tỷ giá, có thể kể tóm lược một số nghiên cứu như sau: Phƣơng pháp Var McCarthy, J. (2000): sử dụng Mô hình VAR đệ qui (recursiveVAR) để nghiên cứu mức tác động của tỷ giá hối đoái và chỉ số giánhập khẩu đến chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng tại một số nền kinh tế pháttriển giai đoạn 1976 – 1998. Kết quả nghiên cứu cho thấy: 1) việc nâng giá đồng nộitệ sẽ làm giảm giá cả nhập khẩu và điều này kéo dài với thời gian ít nhất là 1 năm ởhầu hết các nước khảo sát. 2) Phản ứng của chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêudùng đối với chỉ số giá nhập khẩu là dương và có ý nghĩa thống kê ở hầu hết cácnước được khảo sát.
Faruqee (2006): Tác giả sử dụng mô hình VAR để xem xét mức độ truyền dẫn củanhững cú sốc tỷ giá vào các chỉ số giá ở khu vực sử dụng đồng tiền 1 EURO. Kết quảnghiên cứu như sau: (1) mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn vào các chỉ số giá thì thấp, tương tự như Mỹ, mức tác động của các cú sốc về tỷ giá trong ngắn hạn vàochỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nhập khẩu gần như bằng 0; (2)mức độ truyền dẫn có xu hướng gia tăng và có tác động lớn nhất vào chỉ số giá nhậpkhẩu, tiếp theo là chỉ số giá sản xuất và nhỏ nhất là chỉ số giá tiêu dùng. Các yếu tốvề hệ thống bán lẻ và chi phí phân phối được cho là ảnh hưởng đến sự khác nhaugiữa mức độ truyền dẫn vào chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng. Takatoshi Ito và Kiyotaka Sato (2006):Tác giả đã sử dụng mô hình VAR để đo lường mức độ truyềndẫn của tỷ giá vào các chỉ số giá trong giai đoạn từ 1994 đến 2006 ở cácnước Đông Á.