Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là châu thổ hạ lưu sông Mê Kông, rộng 39.568 km², chiếm 12% diện tích tự nhiên cả nước, bao gồm 12 tỉnh thành. Đây là vùng đa dạng sinh thái bậc nhất Việt Nam với hệ sinh thái rừng ngập mặn, sân chim, vườn quốc gia, hang karst, bãi biển và mạng lưới kênh rạch dày đặc, đồng thời sở hữu nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú gồm di tích lịch sử, chùa Khmer, lễ hội truyền thống và các công trình kiến trúc tôn giáo đa dạng. Dù tiềm năng lớn, vùng ĐBSCL chưa khai thác hợp lý loại hình du lịch sinh thái (DLST) — xu hướng du lịch phát triển bền vững của thế giới — đặc biệt chưa có quy hoạch thiết kế cụ thể cho các tuyến, cụm DLST tự nhiên lẫn nhân văn. Đây là lý do tác giả thực hiện khóa luận.

Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định theo hai phương diện:

  1. Phương diện lý thuyết: Nắm vững lý thuyết DLST, đặc biệt lý thuyết DLST tự nhiên (DLSTTN) và DLST nhân văn (DLSTNV) áp dụng cho ĐBSCL.
  2. Phương diện thực tiễn: Áp dụng lý thuyết vào đánh giá tổng hợp tiềm năng DLST vùng ĐBSCL; dựa trên cơ sở khoa học của quy hoạch để thiết kế các cụm, tuyến điểm DLSTTN và DLSTNV nhằm phát triển du lịch bền vững, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, tôn tạo giá trị nhân văn; đồng thời mở rộng hiểu biết về DLST để nâng cao trình độ giảng dạy địa lý ở trường phổ thông.

Nội dung nghiên cứu gồm bốn nhiệm vụ cơ bản: xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá tài nguyên DLST tự nhiên (TNDLSTTN) và tài nguyên DLST nhân văn (TNDLSTNV); đánh giá các điểm tài nguyên làm cơ sở khoa học thiết kế tuyến cụm; phân tích hiện trạng khai thác cùng hạ tầng kỹ thuật; và định hướng thiết kế các tuyến cụm DLST theo hướng phát triển bền vững.

Đối tượng nghiên cứu là các điểm tài nguyên DLST tự nhiên và nhân văn vùng ĐBSCL. Phạm vi không gian bao gồm 12 tỉnh thuộc vùng ĐBSCL; phạm vi thời gian của định hướng quy hoạch hướng đến năm 2010.

Về giới hạn đề tài, tác giả xác định khóa luận chỉ dừng ở bước định hướng thiết kế tuyến điểm DLST, không đề xuất các dự án đầu tư cụ thể.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm

Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận từ Pháp lệnh du lịch Việt Nam (các định nghĩa về du lịch, khách du lịch, khu du lịch, tài nguyên du lịch) và các định nghĩa DLST từ nhiều nguồn quốc tế: Hội DLST (Ecotourism Society, 1992), Hiệp hội DLST, David Western, tuần báo du lịch ngày 13-20/9/1999, và quan điểm của Trương Hoàng Phương (1999).

Phân loại DLST theo quan điểm của Hội DLST Quốc tế gồm ba loại hình: DLST tự nhiên (khai thác VQG, KBTTN, HST rừng, hang động, bãi biển, rạn san hô), DLST nhân văn (khu bảo tồn dân tộc, di tích lịch sử, lễ hội truyền thống) và DLST kết hợp tự nhiên–nhân văn.

Ba quan điểm chủ đạo được vận dụng trong nghiên cứu:

  • Quan điểm địa sinh thái: Thống nhất nghiên cứu địa lý học với các hệ sinh thái nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường phục vụ phát triển lâu bền.
  • Quan điểm sinh thái phát triển: Kết hợp sinh thái với kinh tế học và xã hội học, giải quyết mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường động lực và xu thế phát triển cảnh quan.
  • Quan điểm kinh tế sinh thái: Khai thác TNDLST một cách hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế nhưng đồng thời bảo đảm môi trường bền vững, dự báo và ngăn ngừa suy thoái môi trường.

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kế thừa từ Đặng Duy Lợi (1992), Nguyễn Minh Tuệ (1993), Trần Văn Thành (1995), Phạm Xuân Hậu, Trần Văn Thành và Trương Hoàng Phương (1995, 1998).

Phương pháp nghiên cứu

Bốn phương pháp chính được sử dụng:

  1. Phương pháp tổng hợp đánh giá so sánh: Kế thừa kết quả nghiên cứu trước, phân tích và đánh giá số liệu thống kê thu thập theo mục tiêu DLST.
  2. Phương pháp bản đồ: Sử dụng bản đồ du lịch ĐBSCL tỉ lệ 1/500.000, sơ đồ du lịch vùng miền Tây Nam Bộ tỉ lệ 1/75.000, bản đồ địa hình ĐBSCL tỉ lệ 1/500.000 để thống kê và xác định vị trí các điểm TNDLST.
  3. Phương pháp phiếu: Lập phiếu riêng cho mỗi điểm TNDLST với nội dung gồm vị trí, đặc điểm và xếp loại.
  4. Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế tại một số điểm thuộc tỉnh Tiền Giang, tuyến TP.HCM–Cần Thơ–Hà Tiên–Đồng Tháp và một số địa bàn thuộc Long An, Bến Tre.

Nguồn dữ liệu

Tài liệu thu thập từ Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam, các công ty du lịch tỉnh ĐBSCL đặt tại TP.HCM, kết quả nghiên cứu có trước (Phan Huy Xu & Trần Văn Thành 1998, Trương Hoàng Phương 1999, Trần Văn Thành & Phạm Thị Ngọc 2000), hình ảnh và tài liệu từ các chuyến thực địa.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý do – Mục tiêu – Nội dung nghiên cứu – Giới hạn đề tài – Lược sử nghiên cứu

Chương này xác lập căn cứ chọn đề tài, hệ thống mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, đồng thời lược khảo lịch sử nghiên cứu DLST trong nước và quốc tế. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước của Phan Huy Xu & Trần Văn Thành (1998), Trương Hoàng Phương (1999), Trần Văn Thành & Phạm Thị Ngọc (2000) đã thiết kế tuyến cụm DLSTTN nhưng chưa đi sâu vào DLSTNV cũng như chưa định hướng khai thác tổng hợp cả hai loại hình. Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch (1994) về quy hoạch phát triển du lịch ĐBSCL giai đoạn 1994–2010 cũng chưa xây dựng chỉ tiêu đánh giá DLST và chưa thiết kế điểm–tuyến–cụm cụ thể.

Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày toàn bộ khung lý thuyết về du lịch và DLST, phân loại khách DLST theo Mawforth (1993), Poon (1993) và Mackey (1994), sáu chương trình hướng dẫn DLST của Hội DLST Quốc tế (bao gồm: chương trình trước khi khởi hành, hướng dẫn, giám sát, quản lý, làm việc và lao động địa phương, kiểm tra cơ sở lưu trú), ba quan điểm chủ đạo và bốn phương pháp nghiên cứu đã nêu. Chương trình bày cụ thể các bước tiến hành từ soạn thảo đề cương, thu thập tài liệu, xử lý và viết nháp đến hoàn chỉnh văn bản cuối cùng.

Chương 3: Đặc điểm tài nguyên, môi trường và tình hình khai thác DLST vùng ĐBSCL

Chương phân tích vị trí địa lý của ĐBSCL trong bối cảnh du lịch quốc gia — được xác lập là trọng điểm du lịch với sản phẩm đặc trưng là DLST và du lịch sông nước trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995–2010.

Về môi trường tự nhiên và TNDLSTTN: địa hình châu thổ với vùng trũng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, núi Cấm (984 m) ở Thất Sơn, hang động karst Hà Tiên; thủy văn với mạng lưới sông rạch tổng chiều dài khoảng 5.000 km; khí hậu cận xích đạo biển nhiệt độ trung bình 26,9°C; HST rừng ngập mặn rộng khoảng 300.000 ha, xếp thứ ba thế giới sau Philippines và Brazil; HST đầm nội địa rộng 121.000 ha; hệ động vật gồm 23 loài có vú, 386 loài chim, 35 loài bò sát, 260 loài cá; VQG Tràm Chim — nơi sinh sống của loài sếu cổ trụi quý hiếm; đảo Phú Quốc với 1.078 loài thực vật bậc cao, 140 loài động vật, trong đó có loài đặc hữu vượn tay trắng.

Về tình hình khai thác du lịch, chương cung cấp số liệu cụ thể: năm 1994, khách du lịch quốc tế đến ĐBSCL đạt 105.602 người (tăng gần 4 lần so với năm 1982), khách nội địa đạt 958.832 người (tăng 1,4 lần). Tỉnh An Giang dẫn đầu với 568.482 khách năm 1994, riêng 6 tháng đầu năm 1995 đã đón hơn 1 triệu lượt khách. Doanh thu du lịch tăng trung bình 52%/năm; Cần Thơ năm 1995 đạt 42 tỷ 233 triệu đồng, nộp ngân sách 12 tỷ 680 triệu đồng. Lao động ngành du lịch năm 1994 đạt 3.310 người. Cơ sở hạ tầng còn hạn chế: 3 sân bay hoạt động (Cần Thơ, Rạch Giá, Phú Quốc), cầu Mỹ Thuận thông xe tháng 5/2000, điện tiêu thụ bình quân 200–250 kWh/năm. Chương kết luận DLST ĐBSCL phát triển chưa tương xứng tiềm năng do 8 nguyên nhân chính, trong đó nổi bật là phân tán tài nguyên, kết cấu hạ tầng lạc hậu, thiếu vốn đầu tư và loại hình khai thác đơn điệu.

Chương 4: Đánh giá TNDLSTTN và TNDLSTNV vùng ĐBSCL

Đây là chương có tính phương pháp luận quan trọng nhất. Tác giả xây dựng hệ thống 8 chỉ tiêu đánh giá chia thành hai nhóm:

  • Nhóm thu hút khách (hệ số 3 và 2): tính hấp dẫn, tính đa dạng sinh học (hệ số 3); cơ sở hạ tầng & vật chất kỹ thuật du lịch, tính thời vụ (hệ số 2); tính an toàn, sức chứa (hệ số 1).
  • Nhóm quản lý khai thác (hệ số 3 và 2): tính bền vững, tính liên kết (hệ số 3); cơ sở hạ tầng & vật chất kỹ thuật du lịch, tính thời vụ (hệ số 2); tính an toàn, sức chứa (hệ số 1).

Mỗi chỉ tiêu đánh giá theo 4 bậc (điểm 4, 3, 2, 1), kết quả tổng hợp phân thành 3 loại: Loại A (thu hút khách quốc tế và nội địa), Loại B (thu hút khách nội địa), Loại C (chỉ thu hút khách địa phương).

Nhóm tài nguyên Số điểm đánh giá Số loại hình Loại A Loại B Loại C
TNDLSTTN 51 15 18 điểm 33 điểm 0
TNDLSTNV 68 17 26 điểm 42 điểm 0
Nhóm tài nguyên Khai thác – quản lý Loại A Loại B Loại C
TNDLSTTN Thuận lợi/hạn chế 12 điểm 26 điểm 13 điểm
TNDLSTNV Thuận lợi/hạn chế 19 điểm 34 điểm 15 điểm

Trong số 18 điểm TNDLSTTN Loại A, nổi bật có sông Tiền, sông Hậu, suối Đá Bàn (Phú Quốc), núi Cấm, VQG Tràm Chim, KBTTN Phú Quốc–Mũi Cà Mau–Vồ Doi, HST rạn san hô Phú Quốc, sân chim Bạc Liêu–Đầm Doi–Chùa Cò–Vàm Hồ, bãi Dương Đông–bãi Khem, hòn Khoai–Phú Quốc, hang karst Hà Tiên. Trong số 26 điểm TNDLSTNV Loại A có chùa Dơi, chùa Hang, chùa Tây An, chùa Vĩnh Tràng, miếu Bà Chúa Xứ, lăng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, lăng Mạc Cửu, bảo tàng văn hóa Khmer, bảo tàng văn hóa Óc Eo, khu lưu niệm Bác Tôn, Gò Tháp Mười, lễ hội Oc-om-bok và đua ghe ngo cùng nhiều điểm nhà vườn, chợ nổi đặc trưng.

Chương 5: Định hướng quy hoạch thiết kế DLSTTN và DLSTNV vùng ĐBSCL

Chương trình bày cơ sở khoa học của quy hoạch DLST, gồm xu hướng tăng trưởng thị trường DLST ước tính 12–15%/thập kỷ theo các chuyên gia DLST, và bốn nhân tố thúc đẩy xu hướng này. Năm 1994 các tổ chức du lịch quốc tế xác định châu Á là thị trường phát triển DLST thuận lợi nhất.

Tác giả xác định ba đơn vị phân vùng DLST: điểm DLST (lãnh thổ nhỏ, lưu trú 1–2 ngày), cụm DLST (kết hợp nhiều điểm, lưu trú 2–3 ngày, ví dụ cụm Mỹ Tho–Bến Tre–Vĩnh Long, cụm Đồng Tháp Mười), và tuyến DLST (kết nối nhiều điểm khác chức năng, phạm vi lãnh thổ trên và dưới 150 km, lưu trú ít nhất 3 ngày).

Định hướng phát triển hướng đến năm 2010 theo ba nhóm tài nguyên. Đối với DLSTTN: khai thác 51 điểm TNDLSTTN, ưu tiên các điểm có ý nghĩa quốc tế–quốc gia thuộc Châu Đốc, Hà Tiên, Phú Quốc, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang. Đối với DLSTNV: khai thác 68 điểm TNDLSTNV thuộc 17 loại hình. Các tuyến DLST liên kết quốc tế được thiết kế kết nối với Campuchia, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia.

Chương nêu năm nguyên tắc thiết kế tuyến DLST: cân đối thời gian di chuyển không vượt quá 50% thời gian tuyến du lịch trong ngày; nội dung phong phú mang tính đặc thù; giá cả hợp lý; đảm bảo thời gian phục hồi sức khỏe; kết hợp tham quan với mua sắm. Đồng thời nêu năm hướng phát triển loại hình du lịch: văn hóa–lịch sử, vui chơi–giải trí, du lịch xanh, DLST (Eco-tourism) và du lịch hội thảo–hội chợ.

Dự báo đến năm 2010: ĐBSCL có khả năng đón 810.000–820.000 khách quốc tế (tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001–2010 khoảng 13%/năm) và 5,2–5,4 triệu khách nội địa (tăng trưởng khoảng 7%/năm).


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính:

  • Đánh giá sơ bộ 51 điểm TNDLSTTN thuộc 15 loại hình, trong đó 18 điểm Loại A (thu hút quốc tế và nội địa), 33 điểm Loại B (thu hút nội địa), 12 điểm Loại A và 26 điểm Loại B về quản lý khai thác, 13 điểm Loại C cần đầu tư nhiều.
  • Đánh giá sơ bộ 68 điểm TNDLSTNV thuộc 17 loại hình, trong đó 26 điểm Loại A, 42 điểm Loại B, 19 điểm Loại A và 34 điểm Loại B về quản lý khai thác, 15 điểm Loại C.
  • Xây dựng hệ thống thang đánh giá 8 chỉ tiêu với 3 cấp hệ số áp dụng cho cả TNDLSTTN và TNDLSTNV.
  • Lập danh sách mô tả chi tiết các điểm DLST ở phần phụ lục.
  • Thiết kế sơ đồ quy hoạch DLSTTN, DLSTNV và quy hoạch kết hợp DLSTTN & DLSTNV vùng ĐBSCL; sơ đồ phân bố điểm TNDL các khu vực huyện đảo Phú Quốc và bán đảo Cà Mau.

Giải pháp và kiến nghị:

  • Khai thác theo năm hướng du lịch kết hợp, không bó hẹp trong không gian ĐBSCL mà gắn kết với vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
  • Ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông, sân bay, bến cảng và cơ sở lưu trú đạt chuẩn để nâng cao khả năng tiếp nhận khách quốc tế.
  • Tuân thủ Chỉ thị 46/CT-TW ngày 14-10-1994 của Ban Bí thư TW Đảng về lãnh đạo đổi mới và phát triển du lịch.

Đóng góp so với nghiên cứu trước:

Tác giả tự đánh giá khóa luận là công trình nghiên cứu kế thừa và bổ sung, lần đầu thiết kế đồng thời quy hoạch DLSTNV và quy hoạch tổng hợp cả DLSTTN lẫn DLSTNV vùng ĐBSCL — điểm còn bỏ ngỏ trong các nghiên cứu của Trần Văn Thành & Phạm Thị Ngọc (2000) và Trương Hoàng Phương (1999).


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả thẳng thắn thừa nhận một số hạn chế trong khóa luận:

  • Phạm vi thực địa hẹp: Do kinh phí, thời gian và phương tiện, chỉ khảo sát được một số điểm ở Tiền Giang, tuyến TP.HCM–Cần Thơ–Hà Tiên–Đồng Tháp, Long An và Bến Tre; chưa tiến hành khảo sát thực tế tại các điểm TNDLSTTN và TNDLSTNV; chưa tổ chức phiếu thăm dò du khách, chính quyền và cộng đồng địa phương.
  • Giới hạn mức độ nghiên cứu: Đề tài chỉ dừng ở bước định hướng thiết kế, không xây dựng được các dự án đầu tư cụ thể.
  • Hạn chế tài liệu: Tài liệu về DLST còn rộng và ít cụ thể cho từng địa bàn; số liệu thống kê không đồng nhất giữa các tỉnh.

Dựa trên phạm vi nghiên cứu, hướng tiếp nối có thể bao gồm: khảo sát thực địa toàn diện tại các điểm DLST trọng điểm như Phú Quốc, Cà Mau và Hà Tiên; điều tra xã hội học đối với du khách và cộng đồng địa phương; xây dựng dự án đầu tư cụ thể cho từng cụm DLST ưu tiên; cập nhật đánh giá tài nguyên theo biến động sau năm 2001.


Giá trị tham khảo

Khóa luận phù hợp để tham khảo đối với các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Địa lý, Du lịch học, Quản lý môi trường: Phần xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá TNDLST (Chương 4) cung cấp quy trình đánh giá 8 chỉ tiêu với hệ số và thang bậc cụ thể, có thể vận dụng làm khung phân tích cho nghiên cứu tương tự ở các địa bàn khác.
  • Sinh viên nghiên cứu về vùng ĐBSCL: Phần mô tả đặc điểm tài nguyên và môi trường (Chương 3) và bảng tổng hợp 51 điểm TNDLSTTN, 68 điểm TNDLSTNV là tư liệu tổng hợp có hệ thống về nguồn tài nguyên vùng tính đến đầu những năm 2000.
  • Người làm đề tài về quy hoạch du lịch sinh thái: Phần phương pháp phân vùng DLST và thiết kế tuyến điểm cụm (Chương 5) trình bày rõ cơ sở khoa học, nguyên tắc và quy trình thiết kế, có giá trị phương pháp luận.
  • Người nghiên cứu lịch sử nghiên cứu DLST Việt Nam giai đoạn 1994–2001: Phần lược sử nghiên cứu (Chương 1) lập bảng đồng đại các công trình trong nước có liên quan cùng khoảng trống chưa được giải quyết.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài đánh giá bao nhiêu điểm tài nguyên DLST và phân thành mấy loại?

Đề tài đánh giá sơ bộ 51 điểm TNDLSTTN thuộc 15 loại hình và 68 điểm TNDLSTNV thuộc 17 loại hình. Kết quả phân thành 3 loại: Loại A (thu hút khách quốc tế và nội địa), Loại B (thu hút khách nội địa trong vùng), Loại C (chỉ thu hút khách địa phương). Đáng chú ý, không có điểm TNDLSTTN hay TNDLSTNV nào xếp Loại C về khả năng thu hút khách.

2. Hệ thống 8 chỉ tiêu đánh giá được phân hệ số như thế nào và tại sao?

Trong 8 chỉ tiêu, tính hấp dẫn, tính đa dạng sinh học, tính bền vững và tính liên kết được xếp hệ số 3 (cao nhất) vì đây là những nhân tố hàng đầu chi phối việc thu hút khách và tạo vùng du lịch. Cơ sở hạ tầng & vật chất kỹ thuật du lịch và tính thời vụ được xếp hệ số 2. Tính an toàn và sức chứa khách du lịch được xếp hệ số 1 vì tuy quan trọng nhưng tác động không lớn bằng các chỉ tiêu trên.

3. Dự báo lượng khách đến ĐBSCL đến năm 2010 là bao nhiêu và dựa trên cơ sở nào?

Theo tính toán dự báo trong khóa luận, đến năm 2010 ĐBSCL có khả năng đón 810.000–820.000 khách quốc tế (tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001–2010 khoảng 13%/năm, cao hơn mức bình quân cả nước 8,5%/năm cùng thời kỳ) và 5,2–5,4 triệu khách nội địa (tốc độ tăng trưởng khoảng 7%/năm). Dự báo dựa trên xu thế tăng trưởng giai đoạn 1982–1995 và kỳ vọng đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, sân bay, cầu qua các sông lớn.

4. Điểm TNDLSTTN và TNDLSTNV nào được xếp loại có ý nghĩa quốc tế và quốc gia?

Về TNDLSTTN, 18 điểm được xếp Loại A gồm sông Tiền, sông Hậu, suối Đá Bàn (Phú Quốc), núi Cấm, VQG Tràm Chim, KBTTN Phú Quốc–Mũi Cà Mau–Vồ Doi, HST rạn san hô Phú Quốc, bốn sân chim (Bạc Liêu, Đầm Doi, Chùa Cò, Vàm Hồ), bãi biển Dương Đông và Khem, đảo hòn Khoai và Phú Quốc, một điểm hang karst. Về TNDLSTNV, 26 điểm Loại A gồm chùa Dơi, chùa Hang, chùa Tây An, chùa Vĩnh Tràng; miếu Bà Chúa Xứ; đền Nguyễn Trung Trực; lăng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và lăng Mạc Cửu; bảo tàng văn hóa Khmer, Óc Eo và khu lưu niệm Bác Tôn; Gò Tháp Mười; nhà vườn Bình Hòa Phước và Mỹ Khánh; làng hoa Sa Đéc; chợ nổi Cái Bè và Phụng Hiệp; lâm viên 19/5; trại rắn Đồng Tâm và làng cá bè Châu Đốc; và năm lễ hội lớn.

5. Khóa luận này khác gì so với công trình của Trần Văn Thành & Phạm Thị Ngọc (2000)?

Công trình Trần Văn Thành & Phạm Thị Ngọc (2000) đã bổ sung thiết kế tuyến cụm DLSTTN vùng ĐBSCL và các tuyến liên kết quốc tế với Campuchia, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia, nhưng chưa đi sâu vào thiết kế quy hoạch các điểm–tuyến–cụm DLSTNV cũng như chưa định hướng khai thác tổng hợp cả DLSTTN lẫn nhân văn. Khóa luận này xem là công trình kế thừa và bổ sung, lần đầu xây dựng đồng thời quy hoạch DLSTNV và quy hoạch kết hợp DLSTTN & DLSTNV cho toàn vùng ĐBSCL.


Kết luận

Khóa luận của Nguyễn Thị Thảo (2001) là một nghiên cứu địa lý du lịch tổng hợp, áp dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá 8 tiêu chí với thang điểm có hệ số để lần đầu định lượng và phân loại 119 điểm tài nguyên DLST (51 tự nhiên và 68 nhân văn) thuộc vùng ĐBSCL, từ đó đề xuất định hướng quy hoạch tuyến cụm DLST đến năm 2010. Công trình đặt nền móng nhận diện hệ thống đồng thời cả hai nhóm tài nguyên DLSTTN và DLSTNV — khoảng trống chưa được các nghiên cứu trước lấp đầy — và kết nối quy hoạch du lịch địa phương với chiến lược phát triển bền vững quốc gia. Tuy còn hạn chế về phạm vi thực địa và chưa đạt mức dự án đầu tư, khóa luận cung cấp một khung phân tích và bộ dữ liệu có tính tham khảo về cấu trúc tài nguyên DLST vùng ĐBSCL vào thời điểm đầu những năm 2000.