Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tại Việt Nam diễn ra ngày càng gay gắt. Để tồn tại và mở rộng thị phần, các thương nhân không ngừng tìm kiếm các chiến lược kinh doanh hiệu quả, trong đó xúc tiến thương mại—đặc biệt là hoạt động khuyến mại—đóng vai trò là công cụ thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Hoạt động này không chỉ giúp doanh nghiệp gia tăng doanh thu và tìm kiếm khách hàng tiềm năng mà còn mang lại cho người tiêu dùng nhiều lợi ích kinh tế thiết thực như mua hàng với giá ưu đãi, nhận quà tặng hoặc phiếu giảm giá.

Tuy nhiên, thực tiễn thương mại cho thấy tình trạng lợi dụng các chương trình khuyến mại để trục lợi bất chính và cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện ngày càng phổ biến. Các hành vi tiêu cực bao gồm: doanh nghiệp lớn tung chiêu trò khuyến mại nhằm chèn ép và triệt tiêu doanh nghiệp nhỏ, đưa hàng giả, hàng kém chất lượng hoặc hàng cận hạn sử dụng vào chương trình ưu đãi, nâng giá niêm yết lên cao rồi thông báo giảm giá ảo nhằm đánh lừa người tiêu dùng. Những hiện tượng này trực tiếp xâm phạm quyền lợi hợp pháp của khách hàng, làm méo mó môi trường cạnh tranh lành mạnh và cản trở sự phát triển của nền kinh tế. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Đặng Thị Yến đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Pháp luật Kinh tế với đề tài "Pháp luật về hoạt động khuyến mại tại Việt Nam" tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024) dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Đức Anh.

Mục tiêu nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ hệ thống quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về hoạt động khuyến mại tại Việt Nam; tìm hiểu kinh nghiệm lập pháp và thực thi của một số quốc gia trên thế giới (Hoa Kỳ, Trung Quốc); từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật khuyến mại ở nước ta.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, khái niệm, đặc điểm, vai trò của khuyến mại và pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại; phân tích lược sử hình thành và phát triển của chế định này trong pháp luật thương mại Việt Nam.
  2. Khảo cứu kinh nghiệm pháp luật và mô hình quản lý hoạt động khuyến mại của Hoa Kỳ và Trung Quốc để rút ra bài học tham khảo.
  3. Phân tích thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam điều chỉnh hoạt động khuyến mại (chủ thể, đối tượng hàng hóa/dịch vụ, hình thức, hạn mức, nguyên tắc, thẩm quyền và thủ tục hành chính, các hành vi bị cấm).
  4. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật khuyến mại tại Việt Nam; chỉ rõ những kết quả tích cực, các hạn chế, bất cập và phân tích nguyên nhân phát sinh.
  5. Đề xuất định hướng, kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế đối với từng nhóm chủ thể liên quan.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động khuyến mại, thực tiễn áp dụng pháp luật của thương nhân và cơ quan quản lý nhà nước, cùng quy định pháp luật về khuyến mại của Hoa Kỳ và Trung Quốc.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam, có mở rộng đối chiếu thực tiễn pháp lý tại Hoa Kỳ và Trung Quốc.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình vận hành của pháp luật khuyến mại Việt Nam từ khi Luật Thương mại năm 2005 được ban hành, trọng tâm là giai đoạn áp dụng Nghị định số 81/2018/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 37/2006/NĐ-CP) và các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan đến năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và văn bản quy phạm pháp luật áp dụng: Khóa luận vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế thị trường. Cơ sở pháp lý trọng tâm được sử dụng xuyên suốt công trình gồm:

  • Luật Thương mại năm 2005 (các quy định từ Điều 88 đến Điều 101 về xúc tiến thương mại và khuyến mại);
  • Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (thay thế Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999);
  • Luật Cạnh tranh năm 2004;
  • Nghị định số 81/2018/NĐ-CP ngày 22/05/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại;
  • Nghị định số 37/2006/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 07/2006/TTLT-BTM-BTC (được sử dụng làm cơ sở so sánh);
  • Nghị định số 17/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
  • Nghị định số 120/2005/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh;
  • Nghị định số 98/2022/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;
  • Hệ thống pháp luật quốc tế tham chiếu: Đạo luật Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ năm 1914 (FTC Act) và Nghị định số 18/2006 của Trung Quốc về biện pháp quản lý các hoạt động khuyến mại của nhà bán lẻ.

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ cấu trúc quy phạm, điều kiện áp dụng từng hình thức khuyến mại, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định của Nghị định số 81/2018/NĐ-CP với Nghị định số 37/2006/NĐ-CP; đối chiếu mô hình kiểm soát thị trường thông thoáng của Hoa Kỳ với mô hình quản lý hành chính chặt chẽ đối với nhà bán lẻ của Trung Quốc.
  • Phương pháp bình luận và logic pháp lý: Đánh giá tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tính khả thi trong thực tiễn áp dụng.
  • Phương pháp thống kê: Khai thác số liệu về doanh thu bán lẻ, lưu lượng khách hàng và các khảo sát hành vi tiêu dùng để chứng minh hiệu quả kinh tế cũng như tác động tiêu cực của các vi phạm khuyến mại.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu bao gồm Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam (Tập 2, NXB Tư pháp, 2022); các công trình nghiên cứu khoa học trước đó (luận văn thạc sĩ của Vũ Mỹ Linh năm 2017, Đinh Thị Thùy Linh năm 2019, Trần Thị Thu Hiền năm 2023, Bùi Thị Khuyên năm 1997; bài báo của TS. Nguyễn Thị Dung năm 2007; khóa luận của Trần Thị Kim Dung năm 2012); báo cáo thống kê thị trường của Bộ Công Thương (tháng 01/2024); Quyết định số 1873/QĐ-BCT về Chương trình "Khuyến mại tập trung quốc gia 2023 - Vietnam Grand Sale 2023"; số liệu báo cáo của Sở Công Thương Hà Nội về sự kiện "HaNoi Midnight Sale"; khảo sát thương mại điện tử toàn cầu và Việt Nam năm 2022 của TGM Research; cùng các bài báo phản ánh thực tế tiêu dùng trên báo Kinh tế & Đô thị, Báo điện tử Chính phủ.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về hoạt động khuyến mại và pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về khuyến mại và pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại, đồng thời tổng kết quá trình phát triển pháp luật và kinh nghiệm quốc tế:

  • Khái niệm và đặc điểm: Tác giả phân biệt rõ thuật ngữ "khuyến mại" (khuyến khích người bán/thương nhân bán hàng theo góc độ tiếp cận của Luật Thương mại) và "khuyến mãi" (khuyến khích việc mua). Theo Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại 2005, khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Hoạt động này có 3 đặc điểm cơ bản:
    1. Chủ thể thực hiện là thương nhân (tổ chức kinh tế thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, có đăng ký kinh doanh theo Khoản 1 Điều 6);
    2. Cách thức thực hiện là dành cho khách hàng lợi ích vật chất hoặc phi vật chất;
    3. Mục đích là xúc tiến bán hàng, mở rộng thị phần và phát triển hoạt động kinh doanh.
  • Vai trò của khuyến mại: Được phân tích toàn diện trên 3 bình diện: hỗ trợ thương nhân kích cầu và mở rộng hợp tác; giúp người tiêu dùng mua hàng giá ưu đãi và nâng cao hiểu biết mua sắm; thúc đẩy lưu thông hàng hóa và hình thành môi trường cạnh tranh lành mạnh cho nền kinh tế.
  • Sơ lược lịch sử pháp luật:
    • Giai đoạn trước 1986: Kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước bao cấp nên khái niệm khuyến mại gần như không tồn tại.
    • Giai đoạn 1986 đến trước 2005: Đại hội Đảng VI mở ra nền kinh tế nhiều thành phần. Nhà nước ban hành Quyết định 390-TTg năm 1994, Nghị định 194-CP năm 1994; Luật Thương mại năm 1997 lần đầu ghi nhận chính thức chế định khuyến mại, tiếp nối bởi Nghị định số 32/1999/NĐ-CP.
    • Giai đoạn Luật Thương mại 2005 đến nay: Khung pháp lý hoàn thiện với Luật Thương mại 2005, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, Nghị định số 81/2018/NĐ-CP (thay thế Nghị định 37/2006/NĐ-CP), Nghị định số 17/2022/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 98/2020/NĐ-CP.
  • Kinh nghiệm quốc tế:
    • Hoa Kỳ: Không ban hành luật riêng về khuyến mại mà điều chỉnh thông qua Đạo luật FTC năm 1914 do Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) giám sát. Mô hình Hoa Kỳ đề cao tính tự do kinh doanh, cơ chế mở, không gò bó công nghệ, kiểm soát chặt hành vi gian lận và cạnh tranh không lành mạnh.
    • Trung Quốc: Ban hành Nghị định số 18/2006 điều chỉnh hoạt động khuyến mại của nhà bán lẻ. Quy định chặt chẽ trách nhiệm pháp lý, phương thức tích điểm thành viên; thiết lập chế tài phạt tiền tối đa 3 lần số tiền trục lợi phi pháp nhưng không vượt quá 30.000 Nhân dân tệ. Bên cạnh đó, thực tiễn các đợt siêu khuyến mại của Alibaba (Taobao, Tmall, 1688) tạo động lực tăng trưởng bán lẻ mạnh mẽ.

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động khuyến mại tại Việt Nam

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định và đối chiếu với thực tiễn thương mại:

1. Quy định pháp luật hiện hành về hoạt động khuyến mại

  • Chủ thể: Gồm thương nhân trực tiếp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ của mình và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện theo thỏa thuận hợp đồng (Khoản 2 Điều 88, Điều 95, Điều 96 Luật Thương mại 2005). Tác giả lưu ý trên thực tế còn có các chủ thể phi lợi nhuận gây quỹ hoặc cơ quan nhà nước thực hiện chương trình kích cầu.
  • Hàng hóa, dịch vụ liên quan: Căn cứ Điều 5 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP, pháp luật phân định rõ:
    • Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại: Đối tượng cần xúc tiến tiêu thụ.
    • Hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại: Hàng hóa, dịch vụ hoặc tiền dùng để tặng, thưởng mà không thu tiền.
    • Danh mục cấm áp dụng: Rượu, xổ số, thuốc lá, sữa thay thế sữa mẹ, thuốc chữa bệnh cho người (trừ khuyến mại cho thương nhân kinh doanh thuốc), dịch vụ khám chữa bệnh của cơ sở y tế công lập, dịch vụ giáo dục công lập, hàng hóa dịch vụ cấm lưu hành.
  • Các hình thức khuyến mại: Phân tích 8 hình thức theo Điều 92 Luật Thương mại 2005 và quy định cụ thể tại Nghị định 81/2018/NĐ-CP:
    1. Đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu miễn phí (Điều 8);
    2. Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền có hoặc không kèm việc mua bán hàng (Điều 9);
    3. Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán trước đó - giảm giá (Điều 10);
    4. Bán hàng có kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ (Điều 11);
    5. Bán hàng có kèm phiếu dự thi để chọn người trao thưởng (Điều 12);
    6. Bán hàng kèm việc tham dự chương trình may rủi (Điều 13 - quy định bắt buộc phải trích 50% giá trị giải thưởng không có người trúng nộp vào ngân sách nhà nước);
    7. Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên bằng thẻ tích điểm hoặc phiếu ghi nhận (Điều 14);
    8. Tổ chức cho khách hàng tham gia các sự kiện văn hóa, nghệ thuật, giải trí vì mục đích khuyến mại; cùng hình thức khuyến mại hàng hóa, dịch vụ qua mạng Internet, thiết bị điện tử (Điều 15).
  • Hạn mức khuyến mại: Quy định chặt chẽ tại Điều 6 và Điều 7 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP nhằm chống bán phá giá và bảo vệ cạnh tranh:
    • Giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị sản phẩm và tổng giá trị dùng để khuyến mại trong một chương trình không được vượt quá 50% giá trị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại.
    • Mức giảm giá tối đa không được vượt quá 50% giá bán ngay trước thời gian khuyến mại.
    • Ngoại lệ: Hạn mức được nâng lên 100% khi tham gia các chương trình khuyến mại tập trung (giờ, ngày, tuần, tháng, mùa khuyến mại hoặc đợt Tết Âm lịch 30 ngày trước Tết) do cơ quan nhà nước tổ chức hoặc chương trình do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
    • Miễn áp dụng trần giảm giá: Hàng hóa thực hiện chính sách bình ổn giá, thực phẩm tươi sống, hàng hóa dịch vụ khi doanh nghiệp giải thể, phá sản, chuyển đổi địa điểm, ngành nghề.
  • Nguyên tắc hoạt động: 05 nguyên tắc theo Điều 3 Nghị định 81/2018/NĐ-CP (hợp pháp, trung thực, công khai; bảo đảm quyền nhận thưởng và giải quyết khiếu nại; bảo đảm chất lượng hàng hóa; không ép buộc từ bỏ sản phẩm của thương nhân khác, không so sánh trực tiếp; không dùng kết quả xổ số để xác định trúng thưởng cho các hình thức có may rủi).
  • Thẩm quyền và thủ tục hành chính:
    • Thẩm quyền: Sở Công Thương tiếp nhận thông báo và xác nhận đăng ký chương trình may rủi trên địa bàn 01 tỉnh/thành phố; Bộ Công Thương tiếp nhận đăng ký chương trình may rủi trên địa bàn từ 02 tỉnh/thành phố trở lên và các hình thức khác.
    • Thủ tục: Phân loại thành Thủ tục thông báo (gửi trước tối thiểu 03 ngày làm việc tới Sở Công Thương), Thủ tục đăng ký (thời hạn xác nhận 05 ngày làm việc), và Thủ tục xin phép (đối với hình thức khuyến mại mới chưa được luật quy định).
  • Hành vi bị cấm: Điều 100 Luật Thương mại 2005 (khuyến mại hàng cấm, rượu/bia cho người dưới 18 tuổi, rượu từ 30 độ trở lên, thuốc lá; khuyến mại thiếu trung thực, lừa dối; khuyến mại hàng kém chất lượng gây hại sức khỏe/môi trường; khuyến mại tại trường học, bệnh viện, cơ quan nhà nước; hứa thưởng nhưng không thực hiện; vượt hạn mức tối đa).

2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động khuyến mại

  • Kết quả tích cực:
    • Quy định nới trần khuyến mại lên 100% trong các đợt khuyến mại tập trung tạo đòn bẩy lớn cho thương mại nội địa. Theo báo cáo của Bộ Công Thương, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2024 ước đạt 524.115,6 tỷ đồng (tăng 1,6% so với tháng 12/2023 và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2023).
    • Chương trình "Khuyến mại tập trung quốc gia 2023 – Vietnam Grand Sale 2023" (Quyết định 1873/QĐ-BCT) triển khai từ 04/12/2023 đến 10/01/2024 cho phép thương nhân áp dụng hạn mức 100% trên toàn quốc. Sự kiện "HaNoi Midnight Sale" thu hút khoảng 200 doanh nghiệp với mức giảm giá 100%, ghi nhận lượng khách mua sắm trực tiếp tăng 220–250%, đạt 2,4 triệu lượt khách tại điểm bán và hơn 10 triệu lượt truy cập website; siêu thị Big C Thăng Long tăng gần 230% lượt khách, Vinmart tăng doanh thu và khách hàng 140%, AEON Mall Hà Đông và Long Biên tăng gần 200% lượng khách và lượt truy cập ứng dụng tăng gấp 3 lần.
    • Thủ tục hành chính được đơn giản hóa rõ rệt so với Nghị định 37/2006/NĐ-CP: chương trình có giá trị giải thưởng/quà tặng dưới 100 triệu đồng được miễn thủ tục thông báo; thương nhân chỉ bán hàng và khuyến mại qua sàn TMĐT (Shopee, Lazada) không phải gửi thông báo tới Sở Công Thương; thời hạn gửi thông báo rút từ 07 ngày xuống 03 ngày làm việc; thời gian xác nhận đăng ký giảm từ 07 ngày xuống 05 ngày làm việc.
    • Lợi ích người tiêu dùng: Theo khảo sát năm 2022 của TGM Research về thương mại điện tử tại Việt Nam, 47% người tiêu dùng đánh giá giảm giá theo phần trăm là hấp dẫn nhất, tiếp theo là 45% lựa chọn giảm giá theo số tiền cố định.
Tiêu chí so sánh Nghị định số 37/2006/NĐ-CP Nghị định số 81/2018/NĐ-CP
Hạn mức giảm giá tối đa Cố định không quá 50% Tối đa 50%; cho phép lên đến 100% trong các đợt khuyến mại tập trung
Hạn mức giá trị vật chất khuyến mại Cố định không quá 50% Tối đa 50%; cho phép lên đến 100% trong các đợt khuyến mại tập trung
Miễn thủ tục thông báo Không quy định cụ thể hạn mức miễn Miễn thông báo với chương trình có tổng giá trị quà tặng dưới 100 triệu đồng
Thời hạn gửi hồ sơ thông báo Tối thiểu trước 07 ngày làm việc Tối thiểu trước 03 ngày làm việc
Thời hạn xác nhận hồ sơ đăng ký 07 ngày làm việc 05 ngày làm việc
Khuyến mại trên sàn TMĐT Chưa có cơ chế điều chỉnh riêng Không phải gửi thông báo đến Sở Công Thương nếu chỉ thực hiện trên sàn
  • Bất cập, hạn chế và nguyên nhân:
    • Thương nhân vi phạm quy định: Chiêu trò nâng giá gốc lên cao rồi giảm giá sâu (ví dụ: áo khoác giá ngày thường 600.000 đồng bị nâng lên 1,2 triệu đồng rồi giảm 50% xuống 600.000 đồng trong dịp Black Friday tại phố Chùa Bộc; điện thoại Pocophone F1 trên sàn Tiki niêm yết giá ảo 11,1 triệu đồng giảm 28% còn 8,0 triệu đồng trong khi giá bán chính hãng thực tế chỉ 7,9 triệu đồng kèm quà tặng).
    • Gian lận giải thưởng và chất lượng: Đưa giải thưởng ảo, giải thưởng không có thực trong chương trình may rủi; trà trộn hàng tồn kho, hàng lỗi mốt, đường may lệch (phản ánh của người tiêu dùng tại Vincom TP.HCM).
    • Hiện tượng bán phá giá: Doanh nghiệp không đăng ký khuyến mại tập trung nhưng tự ý treo biển giảm 70%–90% để tiêu diệt đối thủ cạnh tranh.
    • Xói mòn niềm tin: Người tiêu dùng hoài nghi, thờ ơ với các đợt sale do lo ngại khuyến mại ảo.
    • Nguyên nhân từ quản lý nhà nước: Sự phối hợp liên ngành giữa quản lý thị trường, cơ quan thuế, Sở Công Thương còn lỏng lẻo, chồng chéo chức năng nhưng lại bỏ trống những hành vi khuyến mại tinh vi trên môi trường số; nguồn nhân lực kiểm tra, xử lý vi phạm còn mỏng.

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động khuyến mại tại Việt Nam

Trên cơ sở nhận diện các rào cản pháp lý và thực tiễn, Chương 3 đưa ra các giải pháp đồng bộ:

  • Sự cần thiết hoàn thiện: Bắt nguồn từ sự bùng nổ của chuyển đổi số, sự xuất hiện của các phương thức xúc tiến thương mại điện tử đa dạng và yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong bối cảnh mới.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    1. Hoàn thiện quy định về chủ thể: Bổ sung và làm rõ tư cách chủ thể thực hiện hoạt động khuyến mại đối với các tổ chức xã hội, tổ chức phi lợi nhuận tổ chức sự kiện ưu đãi nhằm mục đích từ thiện, gây quỹ cộng đồng.
    2. Hoàn thiện quy định về hạn mức và giá tham chiếu: Xây dựng cơ chế xác thực và giám sát "giá bán trước đó" của hàng hóa, dịch vụ để ngăn chặn hành vi tự ý nâng khống giá niêm yết trước khi giảm giá; quy định chế tài xử lý nghiêm vi phạm về hạn mức.
    3. Hoàn thiện quy định về các hình thức khuyến mại: Bổ sung hướng dẫn chi tiết đối với các mô hình khuyến mại trực tuyến đặc thù trên sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, phát sóng trực tiếp (livestream), tích hợp mã giảm giá với ví điện tử và miễn phí vận chuyển.
    4. Hoàn thiện thủ tục khuyến mại: Đẩy mạnh tiếp nhận và xử lý thủ tục thông báo, đăng ký trực tuyến toàn trình ở cấp độ dịch vụ công; quy định cơ chế chia sẻ dữ liệu liên thông giữa Bộ Công Thương và các Sở Công Thương.
    5. Hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tiêu dùng: Tăng mức phạt tiền vi phạm hành chính đối với hành vi gian dối về giá và giải thưởng, bảo đảm tính răn đe tương xứng với quy mô doanh thu bất chính.
  • Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Đối với doanh nghiệp: Nâng cao đạo đức kinh doanh, thực hiện đúng cam kết về chất lượng sản phẩm và giá trị giải thưởng công bố.
    • Đối với người tiêu dùng: Nâng cao kỹ năng kiểm tra giá cả, tìm hiểu thể lệ chương trình, chủ động khiếu nại tới cơ quan chức năng khi phát hiện dấu hiệu gian lận.
    • Đối với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Tăng cường thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất tại các điểm nóng thương mại; ứng dụng công nghệ thông tin trong hậu kiểm khuyến mại trực tuyến; nâng cao chất lượng phối hợp liên ngành.
    • Đối với Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Phát huy vai trò tiếp nhận phản ánh, tư vấn pháp lý, hỗ trợ người tiêu dùng giải quyết tranh chấp và đại diện khởi kiện các hành vi khuyến mại lừa dối.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính từ dữ liệu văn bản:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ khung pháp lý điều chỉnh hoạt động khuyến mại từ Luật Thương mại 2005 đến Nghị định số 81/2018/NĐ-CP và Nghị định số 17/2022/NĐ-CP.
  • Chứng minh bằng số liệu thực chứng tác động tích cực của chính sách mở trần hạn mức 100%: tổng mức bán lẻ tháng 01/2024 đạt 524.115,6 tỷ đồng (tăng 8,1% so với cùng kỳ); các chương trình như Vietnam Grand Sale 2023 và HaNoi Midnight Sale ghi nhận sự tăng trưởng đột biến từ 140% đến gần 250% về lượng khách tại các hệ thống bán lẻ (Big C Thăng Long, Vinmart, AEON Mall).
  • Dẫn chứng số liệu khảo sát của TGM Research (2022) làm rõ xu hướng thị hiếu: 47% người tiêu dùng ưa thích hình thức giảm giá theo phần trăm và 45% ưa thích giảm giá theo số tiền.
  • Bóc tách thực trạng vi phạm thực tế qua các ví dụ cụ thể về việc tăng giá khống rồi giảm giá ảo (Black Friday Chùa Bộc, sàn Tiki với dòng điện thoại Pocophone F1), hàng lỗi mốt tại trung tâm thương mại lớn, và hiện tượng giải thưởng may rủi không có thật.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Đề xuất sửa đổi Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn theo hướng bổ sung quy định điều chỉnh khuyến mại số, hoàn thiện cách tính giá bán liền kề trước khuyến mại để triệt tiêu việc "thổi giá".
  • Kiến nghị đơn giản hóa và số hóa thủ tục hành chính, liên thông quản lý giữa trung ương (Bộ Công Thương) và địa phương (Sở Công Thương).
  • Đưa ra giải pháp phân định trách nhiệm liên ngành và nâng cao vai trò giám sát của Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Đóng góp của đề tài:

  • Khóa luận kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu đi trước, đồng thời cập nhật kịp thời các văn bản pháp lý mới và bối cảnh chuyển đổi số, thương mại điện tử 4.0.
  • Kết hợp nghiên cứu quy định pháp luật trong nước với bài học lập pháp của Hoa Kỳ (Đạo luật FTC 1914) và Trung Quốc (Nghị định 18/2006/NĐ-CP), cung cấp luận cứ khoa học có giá trị tham khảo cho hoạt động xây dựng và thi hành chính sách pháp luật thương mại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của khóa luận tập trung chủ yếu vào các đô thị lớn (Hà Nội, TP.HCM) và các hệ thống bán lẻ hiện đại, sàn thương mại điện tử lớn; chưa mở rộng đánh giá chi tiết tình hình thực thi pháp luật khuyến mại tại khu vực nông thôn, miền núi. Dữ liệu thực chứng chủ yếu kế thừa từ báo cáo ngành và khảo sát thứ cấp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Đi sâu nghiên cứu cơ chế kiểm soát khuyến mại xuyên biên giới trên các nền tảng mạng xã hội và thương mại điện tử quốc tế; nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo (AI) và thuật toán định giá cá nhân hóa trong hoạt động khuyến mại đối với quyền riêng tư và quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế, Quản trị kinh doanh; cán bộ làm công tác pháp chế tại doanh nghiệp bán lẻ và thương mại điện tử; công chức thuộc cơ quan quản lý thị trường và Sở Công Thương các địa phương.
  • Nội dung giá trị: Bảng so sánh và phân tích chi tiết 8 hình thức khuyến mại kèm điều kiện hạn mức (Chương 2); hệ thống thủ tục hành chính thông báo - đăng ký theo Nghị định 81/2018/NĐ-CP; và các bài học kinh nghiệm quốc tế về quản lý hành vi khuyến mại không lành mạnh (Chương 1).

Câu hỏi thường gặp

1. Hạn mức tối đa về giá trị vật chất và mức giảm giá khuyến mại được pháp luật Việt Nam hiện hành quy định như thế nào? Khi nào được phép áp dụng hạn mức 100%?
Theo Điều 6 và Điều 7 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP, giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị sản phẩm và mức giảm giá tối đa không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại. Hạn mức tối đa được nâng lên 100% trong trường hợp tổ chức các chương trình khuyến mại tập trung (giờ, ngày, tuần, tháng, mùa khuyến mại hoặc đợt Tết Âm lịch 30 ngày trước Tết) do cơ quan nhà nước tổ chức hoặc chương trình xúc tiến thương mại do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

2. Thủ tục hành chính đối với hoạt động khuyến mại theo Nghị định số 81/2018/NĐ-CP có những điểm cải cách nào so với Nghị định số 37/2006/NĐ-CP?
Nghị định số 81/2018/NĐ-CP đã cắt giảm đáng kể thủ tục: miễn nghĩa vụ thông báo với chương trình có tổng giá trị giải thưởng/quà tặng dưới 100 triệu đồng; miễn thông báo đối với thương nhân chỉ khuyến mại trên sàn giao dịch TMĐT; rút ngắn thời hạn gửi hồ sơ thông báo từ trước 07 ngày xuống trước 03 ngày làm việc; và giảm thời hạn cơ quan nhà nước xác nhận đăng ký khuyến mại từ 07 ngày xuống 05 ngày làm việc.

3. Khóa luận chỉ ra những hành vi vi phạm pháp luật khuyến mại phổ biến nào trên thực tế?
Các hành vi vi phạm thường gặp gồm: tự ý nâng khống giá sản phẩm lên cao rồi công bố giảm giá sâu (giảm giá ảo); trà trộn hàng tồn kho, hàng cũ, hàng lỗi mốt, kém chất lượng vào chương trình giảm giá; đưa ra thông tin mập mờ hoặc công bố giải thưởng may rủi không có thật để lừa dối khách hàng; và hành vi bán phá giá dưới giá thành sản xuất nhằm chèn ép đối thủ cạnh tranh.

4. Mô hình quản lý khuyến mại của Hoa Kỳ và Trung Quốc có điểm gì khác biệt đáng chú ý?
Hoa Kỳ không ban hành luật riêng về khuyến mại mà sử dụng Đạo luật FTC năm 1914 và trao quyền cho Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) để kiểm soát hành vi gian lận và cạnh tranh không lành mạnh, tạo cơ chế tự do kinh doanh thông thoáng. Ngược lại, Trung Quốc áp dụng Nghị định số 18/2006 quy định chi tiết trách nhiệm của nhà bán lẻ, kiểm soát chặt chẽ phương thức tích điểm thành viên và quy định chế tài xử phạt tiền tối đa gấp 3 lần số tiền thu lợi bất chính nhưng không quá 30.000 Nhân dân tệ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Yến đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu khi phân tích toàn diện, có hệ thống khung khổ pháp luật và thực tiễn thi hành hoạt động khuyến mại tại Việt Nam. Công trình làm nổi bật những kết quả tích cực của công tác cải cách thủ tục hành chính và chính sách mở trần hạn mức khuyến mại, đồng thời nhận diện thẳng thắn các vi phạm tinh vi về giá ảo, gian lận thương mại và hạn chế trong công tác quản lý nhà nước. Những đề xuất hoàn thiện quy phạm pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu lực thực thi được đưa ra có tính thực tiễn cao, đóng góp tài liệu tham khảo giá trị cho công tác lập pháp và hoạt động xúc tiến thương mại lành mạnh tại Việt Nam.