Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản

Luận văn tốt nghiệp luật học nghiên cứu tốt nghiệp pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện pháp

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2024

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TU VIET TAT

MỤC LỤC

Tính cấp thiết của đề tai

Tình hình nghiên cứu để tai

Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của khóa luận

Wine dich nghiên cứu của khóa

Các phương pháp nghiên cứu dé thực hiện khóa luận

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận

Bố cục của khóa luận

1. CHUONG I: LÝ LUẬN CHUNG VE BAO VE MOI TRƯỜNG TRONG HOAT ĐỘNG KHAI THAC KHOANG SAN VÀ PHAP LUAT VE BẢO VE MOI TRUONG TRONG HOAT ĐỘNG KHAI THAC KHOANG SẢN

1.1. Lý luận chung về bao vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng

1.2. Lý luận chung về pháp luật bao vệ môi trường trong hoạt động khai thác

1.3. Khải niệm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác

1.4. Các yêu cầu đặt ra đối với pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt AOng Khai thac

1.5. Nội dung cơ ban của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động

Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VẺ BẢO VỆ MOI TRƯỜNG TRONG HOAT ĐỘNG KHAI THÁC KHOANG SAN

2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường giai đoạn trước KT

2.2. Quy định về chiến lược khai thác, quy hoạch khai thác khoáng sản và diéu tra cơ bản địa chất về khoáng sản, khu vực khoáng sản

2.3. Quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động khai Huắc khoảNg SGM

2.4. Quy định pháp luật về chủ thé thực hiện quyên khai thác khoảng sản

2.5. Quy định pháp luật về cấp, thu hôi Giấy phép khai thác khoảng sản

2.6. Thực trạng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường giai đoạn khai

2.7. Quy định pháp luật về quản ly chất thải trong khai thác khoảng sản

2.8. Quy định pháp luật về việc cải tạo phục hồi môi trường trong khai

2.9. Quy định pháp luật về nghĩa vụ tài chính trong khai thác khoáng sản

2.10. Thực trạng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường giai đoạn sau

2.11. Về việc đóng cửa mỏ, phục hồi môi trường và đất dai sau khi khai

2.12. Thực trang các quy định pháp luật về khai thác tận thu khoáng sản

2.13. Thực trạng các quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng san

2.14. Về thanh tra, kiểm tra trong hoạt động khai thác khoảng sản

2.15. Quy định pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động khai

Ket 1un ChUON 2

3. PHƯƠNG HUONG, GIẢI PHAP HOÀN THIEN PHÁP LUAT VA NANG CAO HIEU QUA THI HANH PHAP LUAT VE BAO VE MOL TRUONG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOANG SAN TẠI VIET NAM

3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bao vệ môi trường trong hoạt

3.2. Các giải pháp pháp lý hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong höiit ng khói Thác khrititSẴflseassssnaseeegeesialoiCili018SE

3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

EiẾt liển

DANH MỤC TÀI LIEU THAM KHẢO

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của khóa luận

Mục đích nghiên cứu của khóa luận

Các phương pháp nghiên cứu dé thực hiện khóa luận

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận

BO cục của khóa luận

1. CHUONG I: LÝ LUẬN CHUNG VE BAO VỆ MOI TRƯỜNG TRONG HOAT DONG KHAI THAC KHOANG SAN VA PHAP LUAT VE BAO VE MOI TRUONG TRONG HOAT DONG KHAI THAC KHOANG SAN

1.1. Ly luận chung về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

1.1.1. Khái niệm khai thác khoáng sản

1.2. Khai niệm bao vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng san

1.3. Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường và sự can thiết phải bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

Tóm tắt

I. Toàn cảnh pháp luật BVMT trong khai thác khoáng sản ở VN

Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam là một cấu trúc đa tầng, được xây dựng nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển kinh tế và yêu cầu phát triển bền vững. Khoáng sản, với vai trò là tài sản quốc gia và nguồn lực không tái tạo, đòi hỏi một cơ chế quản lý chặt chẽ để khai thác hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. Tuy nhiên, hoạt động này vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do khai thác khoáng sản, ảnh hưởng sâu sắc đến đất, nước, không khí và hệ sinh thái. Nhận thức được điều này, khung pháp lý của Việt Nam đã liên tục được cập nhật và hoàn thiện, với hai văn bản trụ cột là Luật Khoáng sản 2010 (nay được thay thế bởi Luật Địa chất và Khoáng sản 2024) và đặc biệt là Luật Bảo vệ Môi trường 2020. Các luật này cùng với các văn bản dưới luật như Nghị định 08/2022/NĐ-CPThông tư 02/2022/TT-BTNMT đã tạo ra một hành lang pháp lý toàn diện. Hành lang này điều chỉnh hoạt động khai thác khoáng sản từ giai đoạn quy hoạch, thăm dò, cấp phép cho đến khi vận hành, xử lý chất thải và cuối cùng là đóng cửa mỏ, phục hồi hệ sinh thái. Mục tiêu cao nhất của hệ thống pháp luật này là buộc các doanh nghiệp khai thác khoáng sản phải có trách nhiệm đầy đủ, từ việc phòng ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực đến việc khắc phục hậu quả, đảm bảo môi trường sống an toàn cho cộng đồng và bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai.

1.1. Sự cần thiết của pháp luật trong kiểm soát tác động môi trường

Hoạt động khai thác khoáng sản gây ra những tác động của khai thác khoáng sản trên diện rộng và kéo dài. Về môi trường nước, quá trình đào bới, rửa tuyển quặng có thể làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt và nước ngầm do hóa chất, kim loại nặng và bùn đất. Môi trường đất bị phá vỡ cấu trúc, xói mòn, sụt lún và suy giảm diện tích canh tác. Về không khí, bụi từ các mỏ lộ thiên, khí thải từ máy móc và các chất độc hại bay hơi là nguyên nhân trực tiếp gây ô nhiễm. Hệ sinh thái và thảm thực vật bị tàn phá, làm mất đi đa dạng sinh học. Do đó, việc ban hành các quy định pháp luật nghiêm ngặt là tất yếu để phòng ngừa, kiểm soát và yêu cầu các chủ thể phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, đảm bảo hoạt động khai thác không trả giá bằng sự hủy hoại môi trường.

1.2. Các nguyên tắc cốt lõi trong quản lý nhà nước về khoáng sản

Pháp luật về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản. Thứ nhất, khoáng sản là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Thứ hai, hoạt động khoáng sản phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch khoáng sản, gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa và đảm bảo an ninh, quốc phòng. Thứ ba, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được áp dụng triệt để thông qua các công cụ như phí bảo vệ môi trường và tiền cấp quyền khai thác. Cuối cùng, công tác quản lý nhà nước về khoáng sản phải đảm bảo tính công khai, minh bạch, có sự tham gia giám sát của cộng đồng, hướng tới mục tiêu khai thác bền vững và hiệu quả.

II. Top thách thức trong thực thi pháp luật môi trường khoáng sản

Mặc dù khung pháp lý đã tương đối hoàn thiện, thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn. Sự chồng chéo, thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật đôi khi tạo ra kẽ hở để doanh nghiệp lách luật. Năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản ở một số địa phương còn hạn chế, dẫn đến công tác thanh tra, kiểm tra môi trường chưa được thực hiện thường xuyên và triệt để. Một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp vẫn còn ý thức tuân thủ pháp luật kém, cố tình trốn tránh trách nhiệm của doanh nghiệp khai thác khoáng sản. Các hành vi vi phạm phổ biến bao gồm khai thác vượt công suất, không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc lập một cách hình thức, không thực hiện đúng các cam kết về xử lý chất thải và đặc biệt là chây ỳ trong việc nộp phí bảo vệ môi trườngký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Những thách thức này không chỉ gây thất thoát tài nguyên, thất thu ngân sách mà còn để lại những hệ lụy môi trường nghiêm trọng, khó khắc phục, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân và mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.

2.1. Bất cập trong quy hoạch và giám sát cấp giấy phép môi trường

Công tác lập và quản lý quy hoạch khoáng sản tại một số địa phương còn chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng quy hoạch thấp, thiếu tầm nhìn dài hạn và chưa tích hợp chặt chẽ các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Tình trạng quy hoạch treo, quy hoạch chồng lấn với các quy hoạch sử dụng đất khác vẫn còn tồn tại. Bên cạnh đó, việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cấp giấy phép môi trường đôi khi còn mang tính hình thức, chưa đánh giá hết được các nguy cơ tiềm ẩn. Việc giám sát sau cấp phép còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường như đã cam kết.

2.2. Thực trạng trốn tránh nghĩa vụ tài chính và phục hồi môi trường

Nghĩa vụ tài chính là công cụ kinh tế quan trọng để ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tình trạng nợ đọng, trốn tránh việc nộp phí bảo vệ môi trường và thuế tài nguyên vẫn còn phổ biến. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Điều này dẫn đến khi giấy phép hết hạn hoặc doanh nghiệp giải thể, phá sản, khu vực mỏ bị bỏ hoang với những bãi thải khổng lồ, mặt bằng nham nhở, gây ô nhiễm môi trường do khai thác khoáng sản kéo dài mà không có nguồn tài chính để khắc phục. Đây là một gánh nặng lớn cho ngân sách địa phương và xã hội.

III. Quy định pháp luật BVMT trước khi khai thác khoáng sản

Giai đoạn tiền khai thác có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản. Pháp luật Việt Nam đã thiết lập một hàng rào kỹ thuật và pháp lý chặt chẽ mà mọi dự án phải vượt qua trước khi được phép hoạt động. Trọng tâm của giai đoạn này là công tác phòng ngừa, thông qua việc nhận diện, dự báo và đánh giá toàn diện các tác động tiềm tàng của dự án đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Công cụ cốt lõi là báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), một tài liệu khoa học và pháp lý bắt buộc. Dựa trên kết quả ĐTM, cơ quan quản lý nhà nước sẽ xem xét cấp giấy phép môi trường, trong đó quy định rõ các yêu cầu, điều kiện về bảo vệ môi trường mà chủ dự án phải tuân thủ. Đồng thời, một cơ chế đảm bảo tài chính quan trọng là ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường cũng được yêu cầu thực hiện ngay từ đầu. Các quy định này đảm bảo rằng chỉ những dự án có đủ năng lực, có phương án bảo vệ môi trường khả thi và có trách nhiệm tài chính rõ ràng mới được phép triển khai, qua đó sàng lọc và loại bỏ các dự án tiềm ẩn nguy cơ cao gây hại cho môi trường.

3.1. Yêu cầu về đánh giá tác động môi trường ĐTM chi tiết

Theo Luật Bảo vệ Môi trường 2020, dự án khai thác khoáng sản thuộc đối tượng bắt buộc phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Báo cáo ĐTM phải phân tích, dự báo chi tiết các tác động đến môi trường đất, nước, không khí, tiếng ồn, độ rung và hệ sinh thái. Báo cáo phải đề xuất các giải pháp cụ thể để giảm thiểu ô nhiễm, các biện pháp xử lý chất thải mỏ, và phương án phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường. Kết quả thẩm định báo cáo ĐTM là căn cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư và cấp phép cho dự án.

3.2. Quy trình cấp giấy phép môi trường và giấy phép khai thác

Sau khi ĐTM được phê duyệt, doanh nghiệp phải tiến hành xin giấy phép môi trường. Đây là văn bản pháp lý tích hợp nhiều loại giấy phép môi trường thành phần trước đây, quy định các yêu cầu về xả nước thải, phát sinh khí thải, quản lý chất thải nguy hại. Giấy phép khai thác khoáng sản, được cấp theo Luật Khoáng sản 2010 (và các luật kế thừa), xác định rõ vị trí, diện tích, công suất và thời hạn khai thác. Việc cấp phép ngày càng được thực hiện minh bạch hơn thông qua cơ chế đấu giá quyền khai thác, hạn chế cơ chế “xin - cho”.

3.3. Nghĩa vụ ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường bắt buộc

Trước khi đi vào khai thác, doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Đây là một khoản tiền được nộp vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam hoặc quỹ của địa phương. Số tiền này được tính toán dựa trên quy mô và mức độ tác động của dự án. Mục đích của việc ký quỹ là tạo ra một nguồn tài chính đảm bảo cho việc thực hiện phục hồi môi trường sau khai thác, ngay cả khi doanh nghiệp không còn khả năng tài chính. Quy định này được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 08/2022/NĐ-CP, thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp khai thác khoáng sản.

IV. Trách nhiệm pháp lý trong và sau khai thác khoáng sản

Trách nhiệm của doanh nghiệp khai thác khoáng sản không chỉ dừng lại ở giai đoạn cấp phép mà kéo dài xuyên suốt quá trình hoạt động và cả sau khi kết thúc. Pháp luật yêu cầu các đơn vị phải triển khai đồng bộ các biện pháp bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản ngay tại nguồn. Điều này bao gồm việc đầu tư công nghệ, thiết bị hiện đại để giảm thiểu ô nhiễm, xây dựng hệ thống xử lý chất thải mỏ đạt chuẩn trước khi thải ra môi trường. Hoạt động quan trắc môi trường định kỳ và đột xuất là nghĩa vụ bắt buộc để giám sát chất lượng môi trường xung quanh khu vực mỏ và báo cáo cho cơ quan chức năng. Khi vòng đời của mỏ kết thúc, trách nhiệm pháp lý bước vào giai đoạn cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng: phục hồi môi trường sau khai thác và thực hiện thủ tục đóng cửa mỏ. Quá trình này phải được thực hiện theo đúng đề án đã được phê duyệt, sử dụng nguồn tiền đã ký quỹ, nhằm trả lại cho tự nhiên một trạng thái an toàn, ổn định và có thể tái sử dụng cho các mục đích khác.

4.1. Quy định quản lý và xử lý chất thải mỏ nghiêm ngặt

Trong quá trình vận hành, các loại chất thải như nước thải mỏ, bụi, khí thải và chất thải rắn phải được quản lý chặt chẽ. Doanh nghiệp phải đầu tư hệ thống thu gom và xử lý chất thải mỏ theo các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) tương ứng. Hoạt động quan trắc môi trường phải được thực hiện định kỳ theo tần suất quy định trong giấy phép môi trường và báo cáo ĐTM. Kết quả quan trắc phải được công khai và báo cáo cho Sở Tài nguyên và Môi trường để giám sát, đảm bảo các thông số ô nhiễm luôn nằm trong giới hạn cho phép.

4.2. Thực hiện cải tạo và phục hồi môi trường sau khai thác

Công tác phục hồi môi trường sau khai thác không phải là hoạt động cuối cùng mà phải được tiến hành song song, cuốn chiếu trong suốt quá trình khai thác. Các hạng mục công việc bao gồm san lấp mặt bằng, ổn định bờ moong, bãi thải, phủ xanh đất đai, và xử lý các nguồn ô nhiễm tồn dư. Việc này nhằm mục đích đưa khu vực bị tác động trở về trạng thái an toàn, gần với trạng thái ban đầu hoặc chuyển đổi sang mục đích sử dụng có ích khác. Nguồn kinh phí thực hiện được trích từ khoản tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường.

4.3. Thủ tục pháp lý về đóng cửa mỏ và bàn giao đất đai

Khi trữ lượng khoáng sản đã được khai thác hết hoặc giấy phép hết hiệu lực, doanh nghiệp phải lập đề án đóng cửa mỏ. Đề án này phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Sau khi hoàn thành tất cả các hạng mục cải tạo, phục hồi môi trường theo đề án, cơ quan chức năng sẽ tiến hành nghiệm thu. Chỉ khi có quyết định đóng cửa mỏ chính thức, trách nhiệm của doanh nghiệp mới được xem là hoàn thành. Toàn bộ diện tích đất sau đó sẽ được bàn giao lại cho địa phương quản lý theo quy định của pháp luật về đất đai.

V. Cách thanh tra xử phạt vi phạm môi trường khai khoáng

Để đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm minh, hệ thống các chế tài xử lý vi phạm đóng vai trò then chốt trong bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản. Hoạt động thanh tra, kiểm tra môi trường được tiến hành thường xuyên bởi các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ và Sở Tài nguyên và Môi trường, Cảnh sát môi trường. Các cuộc thanh tra này nhằm kiểm tra việc tuân thủ các quy định từ giấy phép môi trường, báo cáo ĐTM cho đến việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính. Khi phát hiện vi phạm, tùy theo tính chất và mức độ, các tổ chức, cá nhân sẽ phải đối mặt với các hình thức xử lý khác nhau. Mức độ nhẹ có thể là xử phạt vi phạm hành chính về môi trường, bao gồm phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn, và buộc khắc phục hậu quả. Đối với các vi phạm nghiêm trọng, gây ô nhiễm môi trường do khai thác khoáng sản trên diện rộng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, pháp luật hình sự sẽ được áp dụng. Việc quy định trách nhiệm hình sự cho cả pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự 2015 là một bước tiến lớn, thể hiện sự quyết tâm của nhà nước trong việc xử lý triệt để các tội phạm về môi trường.

5.1. Hoạt động thanh tra kiểm tra của các cơ quan chức năng

Công tác thanh tra, kiểm tra môi trường được thực hiện theo kế hoạch định kỳ hoặc đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm hoặc phản ánh từ người dân. Nội dung thanh tra toàn diện, bao gồm việc tuân thủ nội dung của giấy phép môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), việc lắp đặt và vận hành các công trình xử lý chất thải, và thực hiện chương trình quan trắc môi trường. Đây là công cụ quan trọng để giám sát và phòng ngừa vi phạm, đảm bảo doanh nghiệp luôn hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

5.2. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về môi trường

Hành vi vi phạm pháp luật môi trường trong khai thác khoáng sản sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về môi trường theo quy định tại các Nghị định chuyên ngành, điển hình là Nghị định 45/2022/NĐ-CP. Mức phạt tiền được quy định rất cao, có thể lên đến hàng tỷ đồng. Ngoài ra, các biện pháp xử phạt bổ sung như tước giấy phép khai thác, đình chỉ hoạt động, và các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc phục hồi môi trường sau khai thác được áp dụng để tăng tính răn đe.

5.3. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm môi trường

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã có những quy định chặt chẽ hơn đối với nhóm tội phạm về môi trường. Các hành vi xả thải vượt quy chuẩn kỹ thuật với khối lượng lớn, gây ô nhiễm nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Một điểm mới quan trọng là quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại. Điều này có nghĩa là chính doanh nghiệp (pháp nhân) có thể trở thành bị can, bị cáo và chịu các hình phạt như phạt tiền, cấm kinh doanh, thậm chí là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ trong việc xử lý các vi phạm môi trường quy mô lớn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 Bảo vệ môi trường trong HDKTKS là hoạt động giữ gin, phòng ngừa, han chế các tác động xấu đến môi trường, ứng phó sự cô môi trường, khắc phục 6 nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường đồng thời khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản trong việc thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan nhằm giữ gìn môi trường trong lành. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong HĐKTS với vai trò là cơ sở pháp lý mà tất cả các chủ thể liên quan đến HDKTKS bắt buộc phải tuân theo, nghiêm túc thực hiện nhằm mục đích hạn chế tối đa các tác động xấu đến môi trường đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tốt cho môi trường hướng tới dòng phác thải xanh hướng tới mục tiêu Netzero vào năm 2025 theo cam kết của Chính phủ, nhằm phát huy tối đa hiệu quả kinh té- xã hội đồng thời phát triển ôn định, bền vững. 15 CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MOI TRƯỜNG TRONG HOAT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SAN 2.

Thực trạng các quy định pháp luật về bao vệ môi trường giai đoạn trước khi khai thác khoáng sản 2. Quy định về chiến lược khai thác, quy hoạch khai thác khoáng sản và điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, khu vực khoáng sản Luật Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 quy định các nguyên tắc và căn cứ trong việc lập chiến lược khoáng sản, trong đó quy định rõ: “sứ dung tiết kiệm khoáng sản, chong lãng phf°. Cũng như quy định nội dung chính của quy hoạch khai thác, sử đụng từng loại, nhóm khoáng sản làm vật liệu xây đựng cả nước và quy hoạch khai thác sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản khác cả nước. Chiến lược khoáng sản được lập cho giai đoạn 10 năm, tầm nhìn 20 năm theo ky chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Chiến lược khoáng sản được Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với Bộ Công thương, Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ, cơ quan ngang bộ khác và các địa phương có liên quan lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Việc quy định các chiến lược khoáng sản, được phê duyệt trong thời gian qua đã góp phần quan trọng cho công tác quan lý hoạt động khai thác khoáng sản của cơ quan Nhà nước, làm cơ sở cho việc triển khai công tác quan lý, cấp phép, thu hồi giấy phép cho các doanh nghiệp khai thác đáp ứng được nhu cầu nguyên vật liệu trên dia bàn và giảm dang kê hoạt động khai thác trái phép hoặc không đủ các điều kiện khai thác. Nhờ các chiến lược khai thác mà các tổ chức và cá nhân khai thác khoáng sản đã có ý thức hơn trong việc tuân thủ quy định của pháp luật, gắn mục tiêu lợi ích sản xuất, kinh doanh khoáng sản với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế-xã hội, bắt kịp xu thế hội nhập quốc tế, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh-quốc phòng và an toàn lao động. Tuy nhiên việc lập quy hoạch khai thác khoáng sản còn tồn tại nhiều bất cập nhất định.

Tại một số địa phương công tác quy hoạch khai thác khoáng sản chưa 16 được quan tâm đúng mức hoặc còn lơ là, quan liêu, chưa xây dựng được quy hoạch chỉ tiết, không lập quy hoạch khoáng sản coi việc thác khoáng sản như một cách khang định vị thế nguồn tài nguyên của địa phương dé phát triển một cách tự nhiên. Bên cạnh đó do tư duy ngại khó, ngại va chạm do tiến độ lập quy hoạch có những điểm hạn chế do quy hoạch khoáng sản phức tạp, thẩm quyền lập quy hoạch còn trùng lặp quy hoạch, chồng lin giữa trung ương và địa phương, nhiều dự án trung ương chưa phê duyệt thì địa phương đã phê duyệt; việc khai thác chưa gắn chặt với quy hoạch sử dụng đất và bảo vệ môi trường. Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 quy định - “Điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản là hoạt động nghiên cứu, điều tra về cấu trúc, thành phần vật chất, lịch sử phát sinh, phát triển vo trái đất và các điều kiện, quy luật sinh khoáng liên quan dé đảnh giá tổng quan tiềm năng khoáng sản làm căn cứ khoa học cho việc định hướng hoạt động thăm do khoảng san.” Kết quả điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản đã thực hiện là căn cứ dé lap nên chiến lược khoáng sản. Từ những kết quả điều tra đó, chúng ta có thé hoạch định được những chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển có tính khả thi phục vụ cho khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản cho từng thời kỳ phát triển của đất nước.

Kỳ quy hoạch điều tra co ban địa chất về khoáng sản là 10 năm, tầm nhìn 20 năm. Là một hoạt động của hoạt động khoáng sản, trước khi tiến hành hoạt động khai thắc khoáng sản cần tiến hành hoạt động điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, khu vực khai thác khoáng sản nhằm nghiên cứu, điều tra về cấu trúc, thành phần vật chất, lịch sử phát sinh, phát triển vỏ trái đất và các điều kiện, quy luật sinh khoáng liên quan dé phát hiện tiềm năng khoáng sản làm căn cứ cho hoạt động khai thác khoáng sản. Kinh phí đầu tư cho thực hiện Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản được thực hiện từ các nguồn bao gồm: Nguồn ngân sách Nhà nước (chi sự nghiệp kinh tế); các nguồn thu từ tiền hoàn trả chỉ phí điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản phần Nhà nước đã đầu tư; nguồn thu từ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và tiền đấu giá quyền khai thác khoáng 17 sản và nguồn vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài tham gia góp vốn điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản đối với các đề án trong danh mục dé án thuộc diện khuyến khích đầu tư được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đánh giá, các đề án điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản bằng nguồn vốn góp của tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư chưa nhiều, nhưng đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phan giải quyết được các tồn tại như giảm được nạn khai thác trái phép, đặc biệt, đối với khoáng sản vàng: đánh giá được đối với khoáng sản trước đây chưa được chú ý như đá cảnh.

Qua đó cũng thấy được đây là nội dung còn hạn chế chưa được tô chức, cá nhân quan tâm, tham gia khi khai thác khoáng sản. Việc thực hiện các đề án điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản bằng nguồn vốn góp của tổ chức, cá nhân góp phần đây nhanh tiến độ điều tra cơ bản; làm rõ hơn tiềm năng tài nguyên khoáng sản để bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác của Trung ương hoặc địa phương sẽ làm giảm bớt chi phí, nhân lực cho Nhà nước. Vậy nguyên nhân từ đâu? Phải chăng chế độ chính sách của Nhà nước chưa tương xứng hoặc chưa thu hút được tô chức, cá nhân? Thực tế đã chứng minh những thực trạng trên là có căn cứ cụ thé như trong quá trình triển khai thực hiện, quyền lợi của nhà đầu tư không có (chỉ được ưu tiên sử dụng tài liệu và được ưu tiên cấp Giấy phép thăm đò khoáng sản ở khu vực không dau gia quyền khai thác khoáng sản); không có chế tài khi tổ chức cá nhân không thực hiện cam kết nộp đủ vốn đầu tư. Quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản.

Đối với công tác đánh giá tác động môi trường trong việc bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 “Tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải thực hiện các giải pháp và chịu mọi chi phí bảo vệ, cải tạo, phục hôi môi trường. Giải pháp, chỉ phí bảo vệ, cải tạo, phục hồi môi trường phải được xác định trong dy án đầu tư, báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường được cơ quan quan ly nhà nước có thẩm quyền phê duyệt”. 18 Như vậy, trước khi tiễn hành hoạt động khai thác khoáng sản, chủ dự án khai thác khoáng sản cần phải thực hiện công tác đánh giá tác động môi trường, thé hiện kết qua thông qua báo cáo đánh giá tác động môi trường được cơ quan có thâm quyền phê duyệt. Việc đánh giá tác động môi trường phải thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án.

Chi phí lập, thấm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc nguồn vốn đầu tư dự án do chủ dự án chịu trách nhiệm. Chủ dự án khai thác khoáng sản có thé tự mình hoặc thuê tổ chức tu van thực hiện đánh giá tác động môi trường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết qua thực hiện đánh giá tác động môi trường tuy nhiên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện đánh giá tac động môi trường và các thông tin, số liệu được sử dụng trong báo cáo đánh giá tác động môi trường. Từ những phân tích cụ thé trên cho thay những quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong khai thác khoáng sản đã được quy định tương đối day đủ và có sự thông nhất trong quy định về việc phải có đánh giá tác động môi trường phục vụ quyết định chú trương đầu tư trong các dự án khai thác. Hệ thống quản lý Nhà nước về thâm định và đánh giá tác động môi trường đã được hình thành ở cấp Trung ương đến địa phương.

Nhờ các quy định này việc thực hiện đánh giá tác động môi trường cho các dự án đầu tư trong nước, các dự an đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nhất là các du án ODA đã triển khai nghiên cứu, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường khá chỉ tiết. Luật bảo vệ môi trường 2020 quy định công khai đanh sách hội đồng thâm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (DTM) lần đầu tiên được quy định. Việc công bố, công khai quyết định phê duyệt kết quả thâm định báo cáo DTM của cơ quan thâm định, công khai báo cáo DTM sau khi được phê duyệt kết quả thắm định của chủ dự án, nội dung báo cáo đề xuất cấp giấy phép môi trường, trừ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật để lấy ý kiến của các bên liên quan cũng đã được quy định cụ thé trong Luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ