Chương 1. NHUNG VAN DE CHUNG 1. Những van đề lý luận về phát triển du lịch văn hóa 1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch 1.Du lịch và phân loại du lịch a) Khái niệm Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội phd biến hiện nay.
Trên thé giới, nhiều quốc gia chú trọng và xem du lịch như một “thước đo” của sự phát trién bởi sức ảnh hưởng và lan tỏa của ngành tế này đối với kinh tế chung là rất lớn. Thậm chí, nhiều quốc gia đã đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trọng tâm của đất nước. Từ đó, các hoạt động nghiên cứu vẻ du lịch và những vấn đề liên quan dưới nhiều góc độ khác nhau cũng dan được chú trọng. Tuy nhiên đến nay chưa có một sự thong nhất về khái niệm du lịch.
Theo Michael Coltman - nhà kinh tế học người Mỹ. du lịch là “sự kết hop và tương tác của bon nhóm nhân tổ trong quá trình phục vụ du khách, bao gồm: du khách, nhà cung ứng dich vụ, cu dan sở tai và chính quyền noi đón khách du lich” (trích theo TS. Tran Thị Mai, 2006). Định nghĩa của Michael tập trung vào mối quan hệ của các bên liên quan, trong đó: du khách là người trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch, tạo nên yếu tố “cau” trong du lịch; nhà cung ứng dịch vụ là nơi cung cấp các dịch vụ và sản phẩm du lịch, đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của du khách; cư dan sở tại là nguồn nhân lực tiềm năng phục vụ du lịch: chính quyên địa phương là cơ quan, t6 chức quản lý.
có vai trò chủ đạo và tạo ra các động lực phát triển du lịch như cơ sở hạ tang, chính sách đầu tư, phát triển, quản lý. Theo nhóm tác giả Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, du lịch được hiểu là “một ngành kinh doanh bao gém các hoạt động tổ chức hướng dan du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dich vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu về di lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của du lịch. Các hoạt động do phải dem lại lợi ích kinh tế, chính trị - xã hội thiết thực cho nước lam du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” Nguyễn Văn Dinh & Trần Thị Minh Hòa, 2006). Ở quan điểm này, 15 tác giả dang nhìn nhận du lịch dưới góc độ kinh tế và xem nó như một ngành kinh doanh với chuỗi hoạt động có sự liên kết, tương hỗ chặt chẽ với nhau nhằm đáp ứng một số như câu của con người và phải tạo ra hiệu quả về mặt kinh tẻ.
Theo Tô chức Du lịch Thể giới, “du lịch là hoạt động về chuyền đi đến một nơi khác với môi trường song thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục it hơn một nam” (Trích theo Nguyễn Minh Tuệ, 2014). Theo đó, du lịch được nhìn nhận đưới hai góc độ cơ bản là thời gian và mục đích chuyến đi của chủ thé. Cụ thé, thời gian của chuyến đi xác định không quá một năm, mục đích chuyền đi phải ngoài hoạt động kiếm tiền. Ngoài ra, không gian du lịch được xác định là ở một địa điểm mà điểm đó khác với môi trường sống, nơi cư trủ thường xuyên của con người.
Dựa trên quan điểm phát triển đất nước và tình hình thực tiễn của Việt Nam, Luật Du lịch 2017 đã đưa ra định nghĩa về du lịch, cụ thé du lịch được hiểu là “các hoat động có liên quan đến chuyền di của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng như cau tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tim hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục dich hợp pháp khác "(Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2017). Quan điểm này có điểm tương đồng với quan điểm của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO). Cả hai đều đề cập đến van đề không gian, thời gian và mục đích của chuyền di. Trước hết về không gian, “ngoai nơi cư trú thường xuyên” nghĩa là môi trường điểm đến trong du lịch phải khác với môi trường sinh sông.
các chuyên đi không bao gồm chuyền đi được tô chức trong phạm vi nơi ở diễn ra thường xuyên. Về thời gian, việc nhận định thời gian điển ra hoạt động du lịch “không quá 01 năm liên tục" dé loại trừ các trường hợp di cư. Một số quan điểm của các nhà nghiên cứu khác còn dé cập đến thời gian lưu trú của khách du lịch từ “trén 24 giờ va đưới 01 năm ” (Nguyễn Văn Dinh & Trần Thị Minh Hỏa, 2006) đẻ phân biệt “du lịch” và “tham quan”. Về mục đích, tùy vào khía cạnh tiếp cận khác nhau sẽ có những nhận định khác nhau nhưng chung quy lại đều nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí.
của du khách nhưng không bao gồm mục đích kiểm tiên. 16 Hiện nay, du lịch là một thuật ngữ phd biến được dùng với nhiều ham nghĩa khác nhau, nó có thê là một hành vi của con người, là một ngành kinh tế hay một ngành khoa học. Trong dé tài này, tác giả sử dụng thuật ngữ du lịch theo định nghĩa của Luật du lịch 2017 dé làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu đề tài. b) Phân loại Loại hình du lịch được hiểu là một “tap hợp các sản phẩm du lịch có đặc điểm giống nhau, hoặc cùng thỏa mãn những nhu cau, động cơ du lịch tương tự, hoặc chúng được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc chúng có cùng cách thức phân phối, tổ chức nh nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá ban nao đó” (Nguyễn Van Dinh & Tran Thị Minh Hòa, 2006) Có rất nhiều cách dé phân loại du lịch dựa vào những tiêu chí và yêu cau khác nhau.
Việc phân loại du lịch giúp cho công tác quy hoạch, định hướng được dé dang hon. Như vậy có thé thay, du lịch được phân loại theo nhiều nhóm khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, việc phần chia các loại hình du lịch chỉ mang tính tương đối. Trên thực tế một người khi đi du lịch thường sẽ có nhiều nhu cầu khác nhau, do đó ta 17 sẽ dé dang bắt gặp hoạt động du lịch có sự kết hợp giữa hai hay nhiều loại hình với nhau đề đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của du khách.Khách du lịch Khách du lịch là chủ thẻ trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch.
là người quyết định chuyền đi và tiêu ding trong chuyến đi đồng thời cũng là đối tượng phục vụ của du lịch. Luật Du lịch 2017 đưa ra định nghĩa: “Khách du lịch la người di du lịch hoặc kết hợp di du lịch, trừ trường hợp di học, làm việc dé nhận thu nhập ở nơi đến ” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2017). Việc phân loại khách du lịch dựa trên nhiêu tiêu chí khác nhau. Theo Giáo trình Kinh tế Du lịch 2006, Khách du lịch được chia thành nhiều nhóm khác nhau, nhưng phô biến nhất là chia thành hai nhóm bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế, trong đó (1) khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thé Việt Nam và (2) khách du lịch quốc té, bao gồm khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài (Nguyễn Văn Đính & Trần Thị Minh Hòa, 2006).
Khách du lịch đóng một vai trò quan trong trong việc thúc đây du lịch phát trién. Một số quốc gia còn đặt ra các quy chuẩn dé nhìn nhận và đánh giá khách du lich, trong đó chú yếu dựa vào các yếu tô như: yếu tổ không gian; thời gian lưu trú tại điểm đến: mục đích, động cơ của chuyển đi. Trong đó, việc phân chia khách đi du lịch thành “khách du lich” và “khách tham quan” được nhiều quốc gia chú trọng. Theo đó, ngoài yếu tổ mục đích chuyền đi và không gian diém đến, thì một người được gọi là khách du lịch chỉ khi thời gian lưu trú của họ đạt tôi thiểu 24 giờ, nếu không họ chỉ được thong kê là khách tham quan đối với nơi đến (Nguyễn Văn Đính & Trần Thị Minh Hòa, 2006).
Việc chia khách du lịch dya trên thời gian lưu trú thật ra không chi phối nhiều đến các định hướng chung trong phát triển du lịch, tuy nhiên điều này có ảnh hưởng đối với việc phát triển lĩnh vực lưu trú cũng như công tác xây dựng sản phẩm du lịch đặc biệt là các sản phẩm du lịch về đêm, 18 1. Tai nguyên du lịch Trong du lich, tài nguyên du lịch đóng vai trò vô cùng quan trong, là yếu tố quyết định đến tinh hap dan của điểm đến. Theo khoản 4 Điều 3 Luật Du lịch 2017, “tai nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tổ tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở dé hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu câu du lich” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2017). Tài nguyên du lịch là một bộ phận cau thành quan trọng của tô chức lãnh thé đu lịch, là yếu tố cơ bản dé tạo nên sản phẩm du lịch.
Đây được xem là nguồn lực phát trién chủ yếu của du lịch, ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, cơ cấu và tính chuyên môn hóa của không gian du lịch. Từ nguồn tai nguyên ban dau các nhà cung cap dịch vụ sẽ khai thác và sáng tạo nên các sản phâm du lịch phục vụ du khách. Tài nguyên du lịch đóng vai trò quyết định mục đích chuyến đi của du khách cũng như hinh thành, quyết định loại hình du lịch của một điềm đến. một địa phương.
Tải nguyên du lịch được chia thành hai nhóm chính là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa. Tài nguyên du lịch tự nhiên được hiệu là những yếu tố được hình thành từ tự nhiên, những yếu tố này không qua sự tác động vật lý của con người. Giá trị hấp dẫn của tài nguyên du lịch tự nhiên được thé hiện thông qua các yếu tố như khí hậu, tải nguyên nước, tài nguyên sinh vật và địa chất, địa hình, cảnh quan. Trong khi đó tài nguyên du lịch văn hóa là tài nguyên gắn liền với những giá trị văn hóa, sản phẩm đo con người tạo ra.