Khóa luận tôt nghiệp ngành xã hội học thông tin về vắc xin covid 19 trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay

Luận văn tốt nghiệp kỹ thuật nghiên cứu tôt nghiệp ngành xã hội học thông tin về vắc xin covid 19 trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay, điều tra thực trạng, phân tích số

Trường đại học

Trường Đại Học Xã Hội

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp
94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU THÔNG TIN VỀ VẮC XIN COVID-19 TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

1.1. Các khái niệm liên quan

1.2. Khái niệm thông tin, truyền thông và truyền thông đại chúng

1.3. Khái niệm báo mạng điện tử

1.4. Khái niệm dịch COVID – 19

1.5. Khái niệm vắc xin

1.6. Khái niệm thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử

1.7. Lý thuyết chức năng

1.8. Lý thuyết truyền thông hai bậc

1.9. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về tiêm vắc xin ngừa COVID-19 và truyền thông về vắc xin COVID-19

1.10. Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về tiêm vắc xin COVID-19

1.11. Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về truyền thông về vắc xin COVID-19

1.12. Khái quát về báo Vn.Express và Sức khỏe & Đời sống

1.13. Báo Sức khỏe & Đời sống

2. CHƯƠNG 2: HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG THÔNG TIN VỀ VẮC XIN COVID-19 TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

2.1. Hình thức đăng tải thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử

2.2. Thông tin chung về mẫu nghiên cứu

2.3. Chuyên mục đăng tải

2.4. Các thể loại chính

2.5. Tiêu đề bài viết

2.6. Nội dung thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử

2.7. Thực trạng đăng tải thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử

2.8. Thông tin chung về nguồn gốc của vắc xin COVID-19

2.9. Thông tin về chính sách, chỉ đạo, hướng dẫn của Đảng và Nhà nước liên quan đến vắc xin COVID-19

2.10. Thông tin về thử nghiệm, điều chế, sản xuất vắc xin COVID-19

2.11. Thông tin về mua, bán, hỗ trợ, kêu gọi hỗ trợ vắc xin COVID-19

2.12. Thông tin về hoạt động tiêm chủng vắc xin COVID-19

2.13. Thông tin về kiến thức, lưu ý trước và sau tiêm vắc xin COVID-19

2.14. Thông tin về tranh cãi, tin đồn, hoài nghi về vắc xin COVID-19

3. CHƯƠNG 3: BÌNH LUẬN CỦA CÔNG CHÚNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÁC BÀI VIẾT VỀ VẮC XIN COVID-19 TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

3.1. Bình luận của công chúng đối với bài viết về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử

3.2. Số lượng và dạng bình luận

3.3. Cảm xúc, thái độ của công chúng qua bình luận

3.4. Những vấn đề đặt ra đối với các bài viết về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử

3.4.1. Vấn đề trong sử dụng thể loại

3.4.2. Vấn đề ngôn ngữ, hình ảnh

3.4.3. Vấn đề nội dung phản ánh về vắc xin COVID-19

3.4.4. Vấn đề về bình luận của công chúng

Tóm tắt

I. Tổng quan về thông tin vắc xin COVID 19 trên báo mạng điện tử

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, thông tin về vắc xin trở thành một chủ đề nóng hổi trên các báo mạng điện tử. Các trang báo như VnExpress và Sức khỏe & Đời sống đã cung cấp nhiều bài viết, phân tích và thông tin liên quan đến vắc xin COVID-19. Việc truyền tải thông tin này không chỉ giúp người dân hiểu rõ hơn về vắc xin mà còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc tiêm chủng. Theo nghiên cứu, thông tin từ báo mạng điện tử đã giúp giảm bớt sự hoài nghi và tăng cường niềm tin của người dân vào vắc xin.

1.1. Tình hình vắc xin COVID 19 ở Việt Nam

Việt Nam đã triển khai nhiều loại vắc xin COVID-19 khác nhau, với sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế. Thông tin về nguồn gốc, hiệu quả và quy trình tiêm chủng được cập nhật thường xuyên trên các báo mạng điện tử, giúp người dân nắm bắt kịp thời.

1.2. Vai trò của báo mạng điện tử trong truyền thông vắc xin

Báo mạng điện tử đã trở thành kênh thông tin chính, cung cấp thông tin nhanh chóng và chính xác về vắc xin COVID-19. Điều này giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin và nâng cao nhận thức về tiêm chủng.

II. Những thách thức trong việc truyền thông về vắc xin COVID 19

Mặc dù thông tin về vắc xin COVID-19 đã được truyền tải rộng rãi, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin. Nhiều thông tin sai lệch và tin đồn về vắc xin đã gây ra sự hoang mang trong cộng đồng. Các nhà báo và cơ quan truyền thông cần phải nỗ lực hơn nữa để cung cấp thông tin chính xác và đáng tin cậy.

2.1. Thông tin sai lệch về vắc xin

Nhiều thông tin sai lệch về tác dụng phụ và hiệu quả của vắc xin đã lan truyền trên mạng xã hội, gây hoang mang cho người dân. Cần có các biện pháp để kiểm soát và phản bác những thông tin này.

2.2. Sự chần chừ trong tiêm chủng

Một bộ phận người dân vẫn còn chần chừ trong việc tiêm vắc xin do thiếu thông tin hoặc bị ảnh hưởng bởi các tin đồn. Việc cung cấp thông tin rõ ràng và minh bạch là rất cần thiết để khuyến khích người dân tham gia tiêm chủng.

III. Phương pháp nghiên cứu thông tin về vắc xin COVID 19

Để nghiên cứu thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử, các phương pháp phân tích nội dung và khảo sát ý kiến độc giả đã được áp dụng. Các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ nhiều bài viết và bình luận của công chúng để đánh giá mức độ tiếp cận và hiệu quả của thông tin.

3.1. Phân tích nội dung bài viết

Phân tích nội dung các bài viết về vắc xin COVID-19 giúp xác định các chủ đề chính và cách thức truyền tải thông tin. Điều này giúp hiểu rõ hơn về cách mà báo chí phản ánh tình hình vắc xin.

3.2. Khảo sát ý kiến độc giả

Khảo sát ý kiến độc giả về thông tin vắc xin COVID-19 cho thấy mức độ tin tưởng và sự quan tâm của người dân đối với các bài viết trên báo mạng điện tử. Kết quả khảo sát sẽ giúp các nhà báo điều chỉnh nội dung cho phù hợp hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ thông tin vắc xin COVID 19

Thông tin về vắc xin COVID-19 trên báo mạng điện tử không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn góp phần vào việc xây dựng chiến lược tiêm chủng hiệu quả. Các cơ quan chức năng có thể dựa vào thông tin này để điều chỉnh chính sách và chiến dịch truyền thông về vắc xin.

4.1. Tác động đến chính sách tiêm chủng

Thông tin từ báo mạng điện tử đã giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về nhu cầu và tâm lý của người dân, từ đó điều chỉnh các chiến dịch tiêm chủng cho phù hợp.

4.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng

Việc cung cấp thông tin chính xác và kịp thời về vắc xin COVID-19 đã giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc tiêm chủng, từ đó khuyến khích nhiều người tham gia hơn.

V. Kết luận và tương lai của thông tin vắc xin COVID 19

Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, việc truyền thông về vắc xin sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng. Các cơ quan truyền thông cần phải nỗ lực hơn nữa để cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và đáng tin cậy, nhằm nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân tham gia tiêm chủng.

5.1. Tương lai của truyền thông vắc xin

Dự báo rằng trong tương lai, các kênh truyền thông sẽ tiếp tục phát triển và cải thiện chất lượng thông tin về vắc xin, giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin hơn.

5.2. Vai trò của công nghệ trong truyền thông

Công nghệ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin về vắc xin, từ việc sử dụng mạng xã hội đến các ứng dụng di động, giúp thông tin đến tay người dân một cách nhanh chóng và hiệu quả.

10/07/2025
Khóa luận tôt nghiệp ngành xã hội học thông tin về vắc xin covid 19 trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU THÔNG TIN VỀ VẮC XIN COVID-19 TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm thông tin, truyền thông và truyền thông đại chúng 1. Khái niệm thông tin Trong lịch sử tồn tại và phát triển, con người thường xuyên cần và trao đổi thông tin.

Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ kỹ thuật, thông tin ngày càng trở thành một trong những nhu cầu sống còn của con người. Xung quanh vấn đề định nghĩa “thông tin” đã nảy sinh nhiều cuộc thảo luận, tranh cãi bởi các tiếp cận vấn đề ở nhiều góc độ, quan điểm khác nhau. Khái niệm thông tin được bắt nguồn từ chữ Latinh “Informetio”, gốc của từ tiếng Anh “Information”. Tác giả Philippe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách “Bùng nổ truyền thông” giải thích rằng: khái niệm này có liên quan đến nét đặc trưng Roman biểu hiện sự mong muốn giảng dạy, truyền đạt.

Nó có hai hướng nghĩa. Nghĩa thứ nhất là nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình dạng (forme), thứ hai là nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng (metio). Hai hướng này cùng tồn tại, nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt, đây là sự tiêu biểu cho phát minh của tiếng Latinh. Nó là thể hiện cho sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức.

Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, tác giả E.Prô Khô Rốp cho rằng “từ thông tin trong ngành báo chí cũng được sử dụng nhiều nghĩa, từ lâu nó đã được dùng trong ba nghĩa có quan hệ mật thiết với nhau: Đó là các thông báo ngắn không bình chủ về các tin tức nóng hổi của đời sống trong nước và quốc tế; là danh mục nhóm thể loại tin tức (các loại hình thông tin: tin ngắn, báo cáo, tường thuật, phỏng vấn); cuối cùng, thông tin đôi khi được hiểu là thể loại tin ngắn”. Cũng theo ông, những người hoạt động trong lĩnh vực truyền thông đại chúng như: phóng viên, biên tập viên, nhà báo,. là những người được đào tạo chủ yếu về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Những vấn đề liên quan đến con người luôn là nguồn cảm hứng chính trong các hoạt động thông tin của họ.

Với họ, thông tin là 15 mục tiêu để họ sáng tạo không ngừng.TS Tạ Ngọc Tấn cho rằng, thông thường thông tin được hiểu là “một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo”. Nhưng khi xem xét thông tin như một thuật ngữ nền tảng của báo chí thì nó lại “liên quan trực tiếp tính hiệu quả của các phương tiện thông tin đại chúng, đến những đòi hỏi về phương pháp, hình thức sáng tạo của nhà báo, đến nguyên tắc và sự tác động qua lại giữa báo chí và công chúng”. Nghĩa là, theo cách đánh giá của PGS.TS Tạ Ngọc Tấn, thông tin trong phạm trù báo chí được thể hiện một cách xuyên suốt trong hành trình của một tác phẩm báo chí đến công chúng. Như vậy, thông tin có sự chuyển hóa trong phương thức hiện diện, từ “thông tin khả năng” mà báo chí có thể mang lại cho công chúng đến “thông tin mà công chúng tiếp nhận được” và kết thúc ở dạng “thông tin thực tế” chính là những giá trị làm nên “sự thay đổi trong nhận thức, hành động của công chúng sau khi tiếp cận với sản phẩm báo chí”.

Trong đề tài này, khái niệm “thông tin” được hiểu là những vấn đề, sự kiện, hiện tượng liên quan đến vắc - xin COVID-19 được thông báo, đăng tải trên báo chí, hướng tới đối tượng là bạn đọc nhằm cung cấp tin tức về vắc - xin COVID-19. Khái niệm truyền thông Hoạt động truyền thông gắn liền với sự phát triển của con người và xã hội, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình giao tiếp, chia sẻ thông tin giữa các cá nhân hay nhóm xã hội. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, truyền thông đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống xã hội, làm thay đổi diện mạo cuộc sống hiện đại, nâng cao chất lượng con người và tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. “Truyền thông” có gốc từ tiếng Latinh là “Commune”, nghĩa là chung hay cộng đồng.

Trong tiếng Anh, từ Communication có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông,. Nhìn nhận truyền thông dưới góc độ sự hiểu biết của con người, Martin P. Adelsm nhận định: truyền thông là quá trình qua đó chúng ta hiểu được người khác 16 và làm cho người khác hiểu chúng ta. Đó là một quá trình liên tục, luôn thay đổi và biến chuyển để thích ứng với các tình huống giao tiếp khác nhau phó với tình huống.

Xét dưới góc độ cộng đồng, Frank Dance (1970) quan niệm rằng: truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người.TS Vũ Đình Hòe (2000) cho rằng “Truyền thông là quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” Từ góc nhìn xã hội học, tác giả Trần Hữu Quang định nghĩa khái niệm truyền thông như sau: “Truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối quan liên hệ giữa con người với con người” trong không gian và thời gian như từ nơi này tới khác, từ thời điểm này tới thời điểm khác. Tác giả Lương Khắc Hiếu đã tổng hợp tử một số quan niệm về truyền thông như sau: “Truyền thông là quá trình giao tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các cá nhân hay các nhóm người nhằm đạt được sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, hình thành thái độ và thay đổi hành vi của con người”. Cũng theo tác giả, truyền thông gắn liền với sự phát triển của con người và xã hội loài người. “Nhờ có truyền thông, giao tiếp mà con người tự nhiên phát triển thành con người xã hội” Như vậy có rất nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về truyền thông, tuy nhiên trong quá trình phân tích, tổng hợp, cũng như căn cứ vào mục đích nghiên cứu của đề tài, trong khuôn khổ nghiên cứu này, sinh viên sử dụng định nghĩa truyền thông như sau: Truyền thông là quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các cá nhân/nhóm xã hội nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong nhận thức và hành vi.

Khái niệm truyền thông đại chúng Truyền thông đại chúng (Mass communication) ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người. Nó bị chi phối trực tiếp bởi hai yếu tố là 17 nhu cầu thông tin giao tiếp và kỹ thuật - công nghệ thông tin. Truyền thông đại chúng (TTĐC) chỉ phát triển và thực hiện được khi loài người phát minh ra các phương tiện in ấn, kỹ thuật truyền phát sóng tín hiệu, máy thu thanh, thu hình, máy tính điện tử, cáo quang, vệ tinh nhân tạo… Khi phân tích mối quan hệ giữa các hệ thống truyền thông với các hệ thống xã hội, nhà xã hội học Mỹ Daniel Lerner, trong một bài đăng trên tạp chí Behavioral Science (1957), cho rằng một trong những điều kiện và đặc điểm của quá trình chuyển đổi từ các xã hội cổ truyền sang các xã hội hiện đại chính là sự chuyển tiếp từ các hệ thống truyền thông truyền miệng sang các hệ thống TTĐC. Trong cuốn “Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội”, PGS.TS Lê Thanh Bình định nghĩa như sau: “Truyền thông đại chúng (TTĐC) là quá trình, hoạt động trao đổi thông điệp có tính phổ biến giữa nguồn phát với công chúng rộng rãi trong xã hội…Có các loại phương tiện TTĐC sau: sách, báo in, báo nói, báo hình (phát thanh và truyền hình), báo điện tử - online, quảng cáo.

Ngoài ra còn có các loại hình khác như băng nhạc, băng hình, đĩa hình, đĩa compact… và truyền thông đa phương tiện - multi media. Lưu Văn An (2007) cho rằng: “TTĐC là hoạt động chuyển giao các thông tin có tính phổ biến trong xã hội một cách rộng rãi và công khai thông qua các phương tiện thông tin đại chúng”. TTĐC gồm hai yếu tố cấu thành là chủ thể và đối tượng.Trong đó, chủ thể bao gồm chủ thể quản lý và chủ thể thực hiện. Đối tượng tác động của TTĐC là công chúng, một bộ phận dân cư hay cả cộng đồng xã hội, trong quốc gia và trên toàn thế giới.

Trong giáo trình nội bộ “Xã hội học Truyền thông đại chúng”, PGS.TS Phạm Hương Trà khái quát như sau: “TTĐC là quá trình giao tiếp xã hội, truyền tải và phổ biến thông tin xã hội đến số lượng công chúng lớn, phân tán về không gian, thời gian. Quá trình này được thực hiện thông qua cơ chế trung gian như đài phát thanh, truyền hình, báo viết, các tạp chí, báo mạng điện tử…” Trong đề tài này, sinh viên định nghĩa TTĐC như sau: TTĐC là quá trình truyền tải thông tin bằng các phương tiện đại chúng tới các nhóm công chúng khác 18 nhau với mục đích định hướng cụ thể của nhà truyền thông. Khái niệm báo mạng điện tử Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, phương tiện kỹ thuật, trong những năm cuối của thế kỷ XX đã xuất hiện những loại hình truyền thông mới, có khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách quan về thông tin - giao tiếp của con người và xã hội. Mạng Internet ra đời đã xuất hiện loại hình báo chí mới - báo mạng điện tử (BMĐT).

Đánh dấu sự ra đời của BMĐT trên thế giới là tờ Diễn đàn Chicago (Chicago Tribune), ra đời vào tháng 5/1992 - đặt máy chủ tại nhà cung cấp dịch vụ American online. Dần dần các tờ BMĐT xuất hiện nhiều hơn nhưng gặp phải không ít rào cản vì số lượng người có máy tính để đọc báo còn quá ít, sự hạn chế và trục trặc trong khâu kỹ thuật, người đọc báo còn e ngại vì sự rắc rối trong việc sử dụng máy móc so với báo in hoặc phát thanh, truyền hình. Tuy nhiên, năm 1993 Web đã trở thành một phương tiện truyền tải thông tin nhanh chóng và hữu hiệu do chi phí thấp và diện phổ quát lại cao. Web (World Wide Web) được sinh ra với mục đích tạo giao diện chung dễ sử dụng trong quá trình truy cập thông tin trên internet.

Vào cuối những năm cuối của thập kỷ 80 nó được Tim Berners Lee, một nhà vật lý ở viện nghiên cứu hạt nhân châu Âu Cern đề xuất và tiến hành nghiên cứu cùng với cộng sự của ông là Robert Cailliau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các chiến lược dịch thuật và ảnh hưởng của ngôn ngữ trong báo chí hiện đại. Mặc dù không có tiêu đề cụ thể, nội dung chính của tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả trong việc truyền tải thông điệp đến độc giả. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về cách thức mà ngôn ngữ và văn hóa ảnh hưởng đến việc tiếp nhận thông tin, từ đó nâng cao khả năng phân tích và đánh giá các bài viết trong báo chí.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Phân tích chiến lược dịch thuật của các bài viết trên The Guardian, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích sâu sắc về cách thức dịch thuật ảnh hưởng đến nội dung và cách tiếp cận của độc giả. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ về tác động của tục ngữ và ca dao truyền thống trong báo in hiện đại cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của ngôn ngữ truyền thống trong bối cảnh báo chí hiện nay. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ về vấn đề hướng nghiệp cho thanh niên nông thôn trên kênh truyền hình VTV6, một tài liệu thú vị về cách thông tin được truyền tải và tiếp nhận trong cộng đồng.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa trong báo chí.