Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Giáo dục học của tác giả Lê Thị Thanh Thủy (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012) được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Võ Thị Hồng Trước. Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề: "Thực trạng xây dựng tập thể học sinh trong công tác chủ nhiệm lớp ở một số trường trung học phổ thông thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai".

Bối cảnh thực tiễn của nghiên cứu xuất phát từ các định hướng đổi mới căn bản của ngành giáo dục trong giai đoạn 2009 - 2011. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo nhằm nâng cao vị trí, vai trò của người giáo viên chủ nhiệm (GVCN), cụ thể:

  • Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 ban hành Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông, trong đó nhấn mạnh năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục (Tiêu chuẩn 2), năng lực giáo dục (Tiêu chuẩn 4) và năng lực hoạt động chính trị, xã hội (Tiêu chuẩn 5).
  • Chỉ thị số 3399/CT-BGDĐT ngày 16/8/2010 về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2010 - 2011, yêu cầu chú trọng bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm lớp cho đội ngũ nhà giáo.
  • Công văn số 4718/BGDĐT-GDTrH ngày 11/8/2010 chỉ đạo đổi mới phương thức giáo dục đạo đức, giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh thông qua phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực".

Về mặt tâm sinh lý, học sinh trung học phổ thông (THPT) nằm trong độ tuổi 15 - 18, thời kỳ định hình tính tự ý thức, tự trọng và xu hướng khẳng định "cái tôi". Sự phát triển mạnh mẽ về nhu cầu khẳng định bản thân nhưng thiếu kinh nghiệm sống khiến học sinh dễ rơi vào xung đột, thiếu tinh thần hy sinh vì lợi ích chung, dẫn đến nguy cơ chia rẽ nhóm tự phát nếu tập thể không được tổ chức khoa học. Thực tế sư phạm tại thành phố Biên Hòa cho thấy, bên cạnh nhiều GVCN xây dựng được khối đoàn kết vững chắc, vẫn còn một bộ phận giáo viên xem nhẹ hoặc chưa nắm vững phương pháp tổ chức tập thể học sinh.

Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát thực trạng xây dựng tập thể học sinh (XDTTHS) trong công tác chủ nhiệm tại một số trường THPT trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này.

Tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài: tập thể, tập thể học sinh, xây dựng tập thể học sinh, công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông.
  2. Tìm hiểu thực trạng xây dựng tập thể học sinh trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT.
  3. So sánh thực trạng xây dựng tập thể học sinh trong công tác chủ nhiệm lớp theo trường, theo lớp và theo khối lớp.
  4. Tìm hiểu một số nguyên nhân, yếu tố cản trở ảnh hưởng đến việc xây dựng tập thể học sinh vững mạnh.
  5. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng tập thể học sinh vững mạnh trong công tác chủ nhiệm.

Đối tượng nghiên cứu là thực trạng xây dựng tập thể học sinh trong công tác chủ nhiệm lớp. Khách thể nghiên cứu là công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên THPT. Giới hạn phạm vi nghiên cứu được xác định tại 3 trường THPT trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai gồm: Trường THPT Nguyễn Trãi, Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh và Trường THPT Lê Hồng Phong. Khách thể khảo sát thực tế gồm 55 cán bộ quản lý/giáo viên và 275 học sinh thuộc cả 3 khối 10, 11 và 12; thời gian thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2012.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm nền tảng dựa trên các công trình giáo dục học kinh điển và giáo trình chuẩn của ngành:

  • Khái niệm tập thể và tập thể học sinh: Tổng hợp từ Từ điển bách khoa toàn thư, Từ điển giáo dục học (Bùi Hiền), giáo trình Giáo dục học phổ thông (Trường Đại học Sư phạm TP.HCM) và quan điểm của tác giả Phạm Viết Vượng. Tập thể học sinh được định nghĩa là hình thái tổ chức cộng đồng độc đáo của học sinh trong một lớp học, có mục đích xã hội chân chính, có kỷ luật chặt chẽ, có đội ngũ tự quản lãnh đạo và có hệ thống hoạt động chung.
  • Khung lý thuyết lịch sử: Điểm lại quan điểm giáo dục tập thể của J.A. Comenius (Comenxki, tác phẩm Phép giảng dạy lớn, 1632 với phát kiến về hệ thống lớp - bài); phong trào "Hội liên hiệp quốc tế các nhà trường mới" của bác sĩ Cecil Reddie (Anh, 1889); hệ thống lý luận của A.S. Makarenko qua thực tiễn Trại Gorki (1920), Công xã Dzerzhinsky và tác phẩm Bài ca sư phạm; công trình Phương pháp công tác chủ nhiệm lớp của N. Bon-du-rep (1984). Tại Việt Nam, đề tài kế thừa các nghiên cứu của Hà Nhật Thăng, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ.
  • Mô hình 3 giai đoạn phát triển tập thể học sinh: Giai đoạn 1 (tập thể mới hình thành, kỷ luật rời rạc, GVCN chỉ định ban cán sự lâm thời); Giai đoạn 2 (tập thể phân hóa thành 3 nhóm gồm phần tử tích cực, thành viên thụ động và học sinh chậm tiến; ban tự quản được bầu chính thức); Giai đoạn 3 (tập thể phát triển vững mạnh, dư luận lành mạnh giữ vai trò điều chỉnh hành vi, nề nếp tự quản hoàn thiện).

Về mặt phương pháp luận, tác giả quán triệt 3 quan điểm tiếp cận: quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm hệ thống - cấu trúc và quan điểm thực tiễn. Hệ thống phương pháp nghiên cứu gồm:

  1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước nhằm xác lập khung lý thuyết.
  2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Điều tra bằng bảng hỏi (công cụ chính): Tiến hành qua 4 giai đoạn từ xây dựng bảng hỏi mở đến thử nghiệm và ban hành chính thức. Bảng hỏi gồm 2 phiếu riêng biệt dành cho giáo viên và học sinh. Thang đo được kiểm định độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach's Alpha trên mẫu thử nghiệm (đạt 0.785 đối với phiếu học sinh và 0.769 đối với phiếu giáo viên).
    • Quan sát sư phạm: Ghi nhận thực tế các giờ sinh hoạt lớp, việc chấp hành nội quy và các hoạt động đoàn thể tại các trường khảo sát trong tháng 2 và tháng 3 năm 2012.
    • Phỏng vấn sâu: Trò chuyện trực tiếp theo bảng câu hỏi chuẩn bị trước với cán bộ quản lý và GVCN về thuận lợi, khó khăn trong công tác tổ chức lớp.
  3. Phương pháp toán thống kê: Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 17.0, sử dụng các đại lượng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình, thứ hạng) và thống kê suy luận (kiểm nghiệm T-Test, Chi-Square, ANOVA) để kiểm định các mối liên hệ và sai biệt có ý nghĩa thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng tập thể học sinh trong công tác chủ nhiệm lớp

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các luận điểm lý thuyết làm căn cứ định hướng cho khảo sát thực tiễn:

  • Lịch sử nghiên cứu vấn đề: Phân tích sự chuyển biến từ nền giáo dục cận đại (Comenius) đến mô hình giáo dục tập thể Xô Viết (Makarenko) và sự tiếp biến của các nền giáo dục hiện đại. Tại Việt Nam, tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình trước đây chỉ nghiên cứu chung về công tác chủ nhiệm hoặc kỹ năng sống, làm việc nhóm ngoài giờ lên lớp (Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thị Kim Dung), rất hiếm công trình đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về quy trình và nội dung xây dựng tập thể học sinh.
  • Lý luận về công tác chủ nhiệm lớp: Xác lập 3 chức năng đặc trưng của người GVCN tại trường THPT:
    1. Người quản lý, giáo dục toàn diện học sinh lớp chủ nhiệm.
    2. Người cố vấn cho các hoạt động tự quản của học sinh (định hướng, không làm thay, bồi dưỡng năng lực cán sự).
    3. Người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường (gia đình, ban giám hiệu, giáo viên bộ môn, đoàn thể xã hội).
  • Hệ thống 7 nội dung và phương pháp xây dựng tập thể học sinh:
    1. Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp và bồi dưỡng các phần tử tích cực: Lựa chọn, phân công rõ chức năng nhiệm vụ, tập huấn kỹ năng và bảo vệ uy tín ban cán sự lớp.
    2. Xây dựng hệ thống viễn cảnh tập thể: Thiết lập hệ thống mục tiêu phân tầng gồm viễn cảnh gần (các hoạt động giải trí, tham quan, thi đua ngắn hạn), viễn cảnh trung bình (các dự án rèn luyện, kỳ thi) và viễn cảnh xa (phương hướng phát triển lâu dài gắn với tương lai đất nước).
    3. Xây dựng kỷ luật tập thể: Kết hợp đồng bộ 3 biện pháp: thuyết phục, biểu dương và trách phạt, hướng tới kỷ luật tự giác.
    4. Xây dựng truyền thống tập thể: Giữ gìn và củng cố truyền thống học tập, đoàn kết, văn hóa nếp sống thông qua triển lãm, báo cáo thành tích.
    5. Xây dựng dư luận lành mạnh, tiến bộ: Định hướng thái độ quần chúng ủng hộ cái đúng, đấu tranh bài trừ các biểu hiện tiêu cực (quay cóp, bỏ học, kết bè phái) qua sinh hoạt lớp, diễn đàn và tiêu chí thi đua.
    6. Xây dựng quan hệ giao lưu lành mạnh: Điều chỉnh quan hệ tình cảm trong nhóm chính thức và nhóm tự phát; duy trì quan hệ chức năng và quan hệ tổ chức.
    7. Tổ chức các hoạt động tập thể đa dạng: Gắn kết học sinh thông qua hoạt động học tập, lao động vệ sinh công ích, văn nghệ, thể dục thể thao và các phong trào thi đua.
  • Đặc điểm lứa tuổi học sinh THPT (15 - 18 tuổi): Phân tích sự hoàn thiện về thể chất (sức mạnh, sự dẻo dai) và nhận thức (tư duy logic bậc cao, tư duy độc lập sáng tạo). Về mặt nhân cách, sự phát triển mạnh của tính tự ý thức, tự trọng và "cái tôi" đòi hỏi GVCN phải khéo léo uốn nắn, chuyển hóa nhu cầu khẳng định cá nhân hòa vào mục tiêu chung của tập thể, tận dụng các quan hệ tình bạn và tình cảm tuổi trẻ làm động lực rèn luyện.

Chương 2: Thực trạng xây dựng tập thể học sinh trong công tác chủ nhiệm lớp ở một số trường THPT TP. Biên Hòa - Tỉnh Đồng Nai

Chương 2 trình bày chi tiết quy trình thực nghiệm, phương pháp khảo sát và hệ thống số liệu định lượng:

  • Mô tả mẫu nghiên cứu và công cụ đo lường: Trình bày quy trình thiết kế bảng hỏi dành cho 2 đối tượng (giáo viên và học sinh), cách thức mã hóa dữ liệu và kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (phiếu học sinh $\alpha = 0.785$; phiếu giáo viên $\alpha = 0.769$).
  • Thực trạng triển khai các nội dung và phương pháp: Hệ thống hóa mức độ thực hiện của GVCN thông qua danh mục 17 bảng thống kê (từ Bảng 2.1 đến Bảng 2.17) và 2 biểu đồ so sánh. Khảo sát đo lường điểm trung bình, xếp hạng thứ tự ưu tiên của các phương pháp, phân tích sự khác biệt về mức độ đánh giá giữa giáo viên và học sinh, cũng như so sánh tương quan giữa các khối lớp (10, 11, 12) và giữa các trường thuộc mẫu nghiên cứu (Nguyễn Trãi, chuyên Lương Thế Vinh, Lê Hồng Phong).
  • Mức độ thay đổi của tập thể học sinh: Phân tích dữ liệu thực chứng về sự biến chuyển của tập thể sau khi GVCN áp dụng các biện pháp (về việc thực hiện nội quy, uy tín ban cán sự, bầu không khí tâm lý, tinh thần tự quản và thành tích thi đua đoàn đội). Bảng 2.10 xác lập mức ý nghĩa thống kê giữa mức độ thực hiện các biện pháp của GVCN và mức độ chuyển biến của tập thể lớp.
  • Các yếu tố cản trở và hệ thống giải pháp: Thống kê thứ tự các rào cản ảnh hưởng đến hiệu quả xây dựng tập thể (Bảng 2.15, 2.16) và đo lường mức độ cần thiết cùng tính khả thi của các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm (Bảng 2.17).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa thực trạng công tác xây dựng tập thể học sinh thông qua hệ thống dữ liệu khảo sát thực tế:

Danh mục đối tượng khảo sát / Công cụ Quy mô mẫu thực tế Chỉ số độ tin cậy (Cronbach's Alpha) Địa bàn / Thời gian khảo sát
Cán bộ quản lý và Giáo viên (BGH, GVCN, GVBM, GV quản sinh) 55 người $\alpha = 0.769$ 3 trường THPT (Nguyễn Trãi, Lương Thế Vinh, Lê Hồng Phong), TP. Biên Hòa
Học sinh THPT (Khối 10, Khối 11, Khối 12) 275 học sinh $\alpha = 0.785$ Khảo sát bảng hỏi: 02/2012; Quan sát: 02 - 03/2012
Khảo sát thử nghiệm (Xác định độ tin cậy công cụ) 10 GV, 30 HS (30 khách thể) Đạt độ tin cậy khá THPT Lê Hồng Phong và THPT Nguyễn Trãi

Các kết quả nghiên cứu chính từ số liệu khảo sát bao gồm:

  • Kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu: Dữ liệu thống kê xác nhận tính đúng đắn của các giả thuyết đặt ra. GVCN thực hiện không đồng đều giữa các nội dung xây dựng tập thể; tần suất áp dụng giữa các phương pháp có sự chênh lệch rõ rệt (phương pháp hành chính, kỷ luật thường được ưu tiên cao hơn việc xây dựng viễn cảnh hay định hướng dư luận).
  • Tương quan hiệu quả: Khẳng định mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ thực hiện các biện pháp sư phạm của GVCN với mức độ thay đổi tích cực của tập thể học sinh về mặt nề nếp, không khí tâm lý và năng lực tự quản (thể hiện qua kiểm nghiệm tương quan tại Bảng 2.10 và các biểu đồ thực nghiệm).
  • Xác định yếu tố cản trở: Nhận diện các rào cản thực tế như quỹ thời gian hạn hẹp dành cho sinh hoạt chủ nhiệm, áp lực dạy kiến thức bộ môn, sự phối hợp chưa đồng bộ từ gia đình và thiếu hụt kỹ năng công tác xã hội/tư vấn tâm lý ở người giáo viên.

Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất hệ thống biện pháp đồng bộ được đánh giá theo 2 chiều: mức độ cần thiết và tính khả thi:

  • Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và phương pháp công tác chủ nhiệm cho giáo viên.
  • Hoàn thiện quy trình lựa chọn, phân công, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo tự quản cho đội ngũ cán bộ lớp.
  • Đa dạng hóa hình thức tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp, gắn kết phong trào thi đua học tập với các hoạt động rèn luyện kỹ năng sống.
  • Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức đoàn thể địa phương.

Về mặt đóng góp khoa học, đề tài đã cụ thể hóa lý luận giáo dục tập thể vào bối cảnh thực tiễn trường phổ thông giai đoạn thực hiện chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT (Thông tư 30/2009/TT-BGDĐT). Khóa luận giải quyết khoảng trống nghiên cứu khi đi sâu vào nội dung xây dựng tập thể học sinh thay vì khảo sát công tác chủ nhiệm nói chung, đồng thời cung cấp bộ dữ liệu thực chứng có giá trị tham khảo về giáo dục học phổ thông tại tỉnh Đồng Nai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn về mặt phạm vi và phương pháp do tác giả xác định:

  • Địa bàn khảo sát giới hạn tại 3 trường THPT (Nguyễn Trãi, chuyên Lương Thế Vinh, Lê Hồng Phong) thuộc khu vực nội thị thành phố Biên Hòa, chưa bao quát được các trường THPT tại vùng nông thôn hoặc khối trường tư thục, dân lập trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
  • Quy mô mẫu dừng lại ở 55 giáo viên và 275 học sinh, thời gian thu thập dữ liệu tập trung ngắn hạn trong học kỳ II năm học 2011 - 2012 (tháng 2 - 3/2012).
  • Khóa luận dừng lại ở mức độ khảo sát thực trạng và thăm dò tính khả thi của giải pháp bằng bảng hỏi, chưa tiến hành thực nghiệm sư phạm can thiệp kéo dài để đối chứng sự chuyển biến của một tập thể lớp cụ thể qua các giai đoạn phát triển.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên diện rộng các loại hình trường THPT khác nhau, gia tăng quy mô mẫu khảo sát và triển khai các đề tài can thiệp thực nghiệm sư phạm ứng dụng trọn vẹn quy trình 7 nội dung xây dựng tập thể trong một chu kỳ năm học.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:

  • Sinh viên các ngành Sư phạm, Giáo dục học, Tâm lý học giáo dục làm tài liệu học tập bộ môn Giáo dục học phổ thông và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.
  • Giáo viên chủ nhiệm các trường THPT muốn chuẩn hóa quy trình xây dựng lớp học từ giai đoạn mới tiếp nhận đến khi hình thành tập thể tự quản vững mạnh.
  • Cán bộ quản lý giáo dục phổ thông (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng phụ trách quản lý học sinh) trong việc xây dựng tiêu chí đánh giá thi đua và kế hoạch bồi dưỡng năng lực công tác chủ nhiệm.

Phần đáng tham khảo nhất của khóa luận là hệ thống lý thuyết về 3 chức năng của GVCN, quy trình 3 giai đoạn phát triển tập thể học sinh và bộ công cụ phiếu hỏi điều tra đã được kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha hoàn chỉnh kèm khung xử lý toán thống kê SPSS 17.0.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận dựa trên những văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo nào của Bộ Giáo dục và Đào tạo?
Khóa luận căn cứ trực tiếp vào Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông; Chỉ thị số 3399/CT-BGDĐT ngày 16/8/2010 về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2010 - 2011; và Công văn số 4718/BGDĐT-GDTrH ngày 11/8/2010 về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học gắn với phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực".

Quá trình phát triển của tập thể học sinh được tác giả phân chia thành mấy giai đoạn?
Dựa trên lý luận của A.S. Makarenko và giáo trình Giáo dục học phổ thông, khóa luận chia quá trình này thành 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (tập thể mới thành lập, kỷ luật rời rạc, ban cán sự do GVCN chỉ định); Giai đoạn 2 (tập thể hình thành và phát triển, phân hóa thành 3 nhóm: tích cực, thụ động và cá biệt; ban tự quản được bầu chính thức); Giai đoạn 3 (tập thể phát triển vững mạnh, dư luận lành mạnh giữ vai trò tự quản chủ đạo).

Mẫu khảo sát thực trạng của đề tài được phân bổ như thế nào?
Đề tài khảo sát chính thức trên 55 cán bộ quản lý và giáo viên (gồm Ban giám hiệu, GVCN, giáo viên bộ môn, giáo viên quản sinh) cùng 275 học sinh thuộc cả 3 khối lớp 10, 11 và 12 tại 3 trường: THPT Nguyễn Trãi, THPT chuyên Lương Thế Vinh và THPT Lê Hồng Phong trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Độ tin cậy của bộ công cụ điều tra bảng hỏi được kiểm định bằng chỉ số nào?
Tác giả kiểm định độ tin cậy thang đo Phần B của bảng hỏi bằng hệ số Cronbach's Alpha trên nhóm khách thể khảo sát thử nghiệm. Kết quả đạt chỉ số $\alpha = 0.785$ đối với phiếu dành cho học sinh và $\alpha = 0.769$ đối với phiếu dành cho giáo viên, chứng minh công cụ đạt độ tin cậy khá để sử dụng chính thức.

Khóa luận sử dụng các thuật toán thống kê nào để xử lý dữ liệu thực nghiệm?
Dữ liệu khảo sát được nhập và xử lý trên phần mềm SPSS 17.0, sử dụng các kỹ thuật tính tần số, tỷ lệ phần trăm, tính điểm trung bình, xếp thứ hạng, cùng các phép kiểm nghiệm thống kê suy luận gồm T-Test, Chi-Square và phân tích phương sai ANOVA để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến số thực trạng.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Thị Thanh Thủy là công trình nghiên cứu thực tiễn sư phạm nghiêm túc, kết hợp chặt chẽ giữa hệ thống lý luận giáo dục học kinh điển với khảo sát định lượng xử lý bằng SPSS 17.0. Đề tài đã phản ánh chân thực thực trạng công tác xây dựng tập thể học sinh tại 3 trường THPT ở thành phố Biên Hòa, kiểm chứng giả thuyết về tính không đồng đều trong thực thi nhiệm vụ của GVCN và mối tương quan giữa biện pháp sư phạm với sự chuyển biến của học sinh. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp cơ sở tham khảo có giá trị ứng dụng rõ rệt cho công tác quản lý và nghiệp vụ chủ nhiệm lớp tại các trường phổ thông.