mở đầu cho một nên giáo dục mới. Trong “Phép giảng dạy lớn”, Comenxki cho rằng: “con người la một thực thể tự nhiên, mả tự nhiên diễn ra theo quy luật, nên giao dục con người cũng phải tuần theo quy luật của tự nhiên” [17, Tr87]. Vi thé, để việc giáo dục trẻ em tốt can phải tao mỗi trường giáo dục va phải giao dục bằng tắm gương của mọi người xung quanh, nhằm đạt những dau ấn ban dau tốt đẹp lên trẻ. Ong là người dau tiên giáo dục trẻ em bằng cách đưa trẻ em vào mỗi trường tập the, dé trẻ học hoi từ tập the.
Từ đó, hệ thông lớp - bải ra đời, đặc điểm của hệ thông lớp bai la trẻ em được chia thanh lớp với một so lượng trẻ em nhất định dé dau vào như nhau, học cùng một chương trình. Hình thức dạy học này xuất hiện như một phát kiến của Comenxki, có ý nghĩa to lớn vẻ lý luận và thực tiễn. Day là hình thức day học làm nên tảng cho giáo dục trong tập the mà người đâu tiên đặt nen móng đó chỉnh la J. Nam 1889, bác sĩ người Anh Retdi đã dé xưởng ra một loại nha trường mới được ap dụng lan dau ở Abotso, sau đó phát triển sang các nước khác ở Châu Âu (Pháp, Mỹ, Bi, Thụy Sĩ.) và trở thành một phong trảo rộng rãi được gọi là “Hội liên hiệp quốc tế các nhả trường mới”.
Nhà trường được xây dựng gan tự nhiên, nha trường đưa trẻ em sống thành từng nhóm từ 10 — 15 10 em dưới sự trong nom moi mat vẻ vật chat va tinh than của một Ong giao va vợ ông giáo dé tao nên một gia đình 4m củng. Nam nữ học chung, lao động chung, hoạt động chung, dân chủ hóa nhà trưởng bang cách cho học sinh tham gia quản ly nha trường hoặc bau ra những người lãnh đạo có trách nhiệm nhất định. Day có thể coi như một hình thức dau tiên của giáo dục tập thẻ thời Dé quốc chủ nghĩa. Nếu như những giai doạn trên được xem như những nen mong dau tién cho giáo dục bang tập thé thi đến thé ki XIX dau thể ki XX, công tác xây dựng va giao dục tập thé học sinh mới được chính thức nghiên cứu va cho ra những kết quả khả quan.
Người dau tiên hình thành những quan điểm đúng din vẻ tập thể va vai trỏ của tập thể trong gido dục chính là Anton Semionnovic Makarenco - nhà giáo dục Xô Viết lỗi lạc. 1920, ông thanh lập va phụ trách trại Goocki - trại giao dục trẻ em phạm pháp, không có gia định và công xã Decdinxki. Từ đây, Makerenco đã phát hiện ra các quan điểm về tập thẻ, giáo dục tập thẻ, ki luật tập thé để xuất ban tác phẩm “Bai ca sư phạm”, một tác phẩm giáo dục nỗi tiếng nhất trong lịch sử giáo dục xã hội chủ nghĩa. Đóng góp lớn lao của Makarenco chính là ở chỗ không chỉ coi chủ nghĩa tập thé như là nội dung yêu cau của quá trình giáo dục, ma còn coi tập thé là môi trường, phương tiện giáo dục.
Vi vậy, giáo dục tập the phải trở thành một nguyên tắc của giáo dục cộng sản chủ nghĩa, nó phản ảnh đặc thù của nên giáo dục xã hội chủ nghĩa, nó là điều kiện đảm bảo việc thực hiện mục dich giao dục con người, nó thé hiện mỗi quan hệ biện chứng giữa tien dé xã hội va giảo duc với tư cách là một hình thải ý thức xã hội [13, Tr261]. Giáo dục chủ nghĩa tập thé là hình thành ý thức lam chủ tập thé, làm chủ xã hội, làm chủ quả trình sản xuất, lam chủ thiên nhiên, làm chủ bản than, la hoạt động tự giác, tỉnh than trách nhiệm, tinh kỷ luật, tính tô chức. Từ đây, các nha giáo dục, đội ngũ cán bộ nghiên cứu va thay cũ giáo Việt Nam, cũng như ở các nước khác trong đỏ có cả một số lon các nước tư bản đã va dang vận dụng kinh nghiệm của Makarenco trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt 14 trong xây dựng và giáo dục tập thể học sinh. Trong tác phim “Phương pháp công tác chủ nhiệm lớp" (NXB Giáo dục Matxcœva, 1984), Bon - du - rép N.
đã trình bảy những phương pháp cơ ban ve cách thức thực hiện công tác chủ nhiệm lớp ở các trường pho thông. Từ định hướng trên, các nước phát triển đã chỉ ra những nội dung GD cho HS trung học ma có liên quan đến công tác chủ nhiệm lop. Những nội dung GD học sinh như: GD kĩ năng sông, GD những giá trị song, GD hướng nghiệp. Hiện nay, xây dựng va giáo dục tập thé học sinh đã trở thành một nội dung giáo dục quan trọng ở hau hết các trường pho thông của các nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và một số nước Đông Nam A như: Trung Quốc, Philippin Malayxia, Singapore.
Xây dựng va giáo dục tập thé học sinh dang ngảy cảng được chủ trọng va đầu tư hơn để hướng đến một nên giáo dục toan diện và hiệu quả [17, Tr320]. Cae nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, công tác chủ nhiệm lớp đã được chủ trọng từ nhiều năm nay tuy nhiên việc xây dựng tập thé học sinh vẫn rất hiểm các dé tai nghiên cứu. Các dé tai chỉ tập trung chủ yêu vào các nội dung của công tác chủ nhiệm chứ chưa đi sâu vào nội dung xây dựng tập the học sinh trong công tac chủ nhiệm lún. Nghiên cửu về công tác chủ nhiệm lớp được tác giả Nguyễn Thanh Bình quan tâm sâu sắc với các công trình: “Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT”, dé tai mã so SPHN-09-465NCSP, 2010, cũng như cuon “Một số van dé trong công tác chú nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay” (NXB Đại học sư phạm, 2011).
Ở đây các tác gia dé cập đến những van dé cơ bản của công tác 12 chu nhiệm lớp, những nội dung trong cong tac chu nhiệm lop ở trường THPT hiện nay từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học. Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung cũng thé hiện quan điểm của minh về nội dung quan trọng trong đảo tạo boi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên sư pham (ki yeu hội thảo khoa học “Nang cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường Đại học sư phạm”, 2010). Ngoài ra con có nhiều nha khoa học cũng quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp với các công trình như: Nguyễn Dục Quang, Lẻ Thanh Sử, Nguyễn Thị Ky, “Những tinh huong giáo dục HS của người GVCN", NXB DHQG Ha Nội, 2000; Ha Nhat Thăng (chu biến), “Phuong phap công tác của người GVCN trường THPT", NXB ĐHQG Ha Nội, 2001; Ha Nhật Thang, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ, "Công tác GVCN ở trường pho thông", NXBGD, 1998; Bộ Giáo dục và Dao tạo, “Ky yeu hội thảo Công tác GVCN ở trường pho thông", NXBGD, 2010. Các tác gia con di sâu vào nghiên cứu những khia cạnh khác co liên quan đến công tác chủ nhiệm như: Nguyễn Thanh Binh với tác phẩm “Giáo dục kĩ năng song” (NXB Đại học sư phạm, HN 2007); Nguyễn Thị Kim Dung va cộng sự “Hưởng dẫn tỏ chức họat động giáo dục ngoài giờ lên lớp” (tải liệu dành cho lớp 11); Nguyễn Thị Kim Dung với dé tải “Rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm của học sinh tiểu học thông qua họat động giáo dục ngoài giờ lên lớp” (2006 -2007), mã số: B 2006 - 17- 01- 2007.
Các công trình trên đây đã đi sau vào nghiên cửu từng nội dung trong công tác chủ nhiệm nhưng chưa có công trình nghiên cứu vẻ nội dung xây dựng tập thẻ học sinh, Thang II năm 2011, sở giáo dục va dao tạo Khánh Hòa đã tô chức hội thảo “Công tác chủ nhiệm lớp ở trường phô thông” đã được các nha quản lý, các thay cô giáo, các phòng giáo dục đảo tạo, các trường học hưởng ứng tích cực. Ban tô chức hội thảo đã nhận được hon 100 bao cáo, tham luận của các đơn vị va cá nhân. Các bao cáo được trình bảy công phụ, thẻ hiện tâm huyết của người viel và cùng thong nhất: “dé nâng cao chất lượng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp đáp ứng yêu cau giáo dục trong giai đoạn hiện nay can phải tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, kỹ năng quan lý, chi đạo cũng như thực hiện công tac giáo viên chủ nhiệm lớp”. Các đẻ tải cũng như công trình nghiên cứu trên đã trình bảy khả sâu sắc về nội dung vả phương pháp chủ nhiệm lớp cũng như những khía cạnh liên quan đến công tác chủ nhiệm.
Điều này cho thấy, công tác chủ nhiệm lớp đang ngay cảng được các giáo viên, can bộ quản lý, các lực lượng giáo dục quan tam va chú trọng dé nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, đa SỐ các dé tai chưa nghiên cứu sâu timg nội dung cụ thể của công tac chủ nhiệm đặc biệt là nội dung xây dựng tap thẻ học sinh trong công tác chủ nhiệm lớp. Vì vậy, cần phải có nhiều hơn những công trình nghiên cửu sâu ve từng nội dung trong công tác chú nhiệm lớp đặc biệt là về nội dung xây dựng tập thé học sinh vững mạnh - một trong những nội dung quan trọng nhất của công tác chủ nhiệm lớp dé xây dựng được những tập thẻ vững mạnh hình thanh mỗi trường giao dục hiệu qua. Ly luận về xây dựng tập thể học sinh trong công tác chủ nhiệm lip ở trường phổ thông.
Ly luận về công tác chủ nhiệm lớp ở trường pho thông 1. Vi trí chức nang của Giáo vién chủ nhiệm * GVCN là người quản lý, giáo dục toàn diện học sinh một lớp học. GVCN ở trường phố thông khác với GVCN ở tiêu học vì ngoài việc quan ly học sinh của một lớp, họ con tham gia giảng dạy một chuyên mon cho các lớp khác, Mặt khác, công tác chủ nhiệm ở trường phỏ thông phải được tiền hanh với những nội dung toàn diện, phong phú va sâu sắc hon han các cấp học dưới, Quan ly học sinh là năm rõ về các thông tin của từng học 14 sinh, dự báo vẻ xu hưởng phát triển của học sinh, có phương hướng tô chức các hoạt dong giao dục, dạy học nhủ hợp. Giáo dục học sinh là giao dục từng ca nhân học sinh và giáo dục tập thẻ học sinh.
Giáo dục học sinh là sử dụng các tác động sư phạm uốn nan và phát triển toàn diện nhân cách học sinh. Không thẻ phủ nhận giáo dục học sinh phải dựa vào kết qua của việc quan lý học sinh. Quản lý chặt chẽ, cụ thẻ, chỉ tiết, toan diện sẽ giup giáo viên chu nhiệm dé ra phương hướng, biện pháp tác động trong công tác giáo dục cụ thé, chính xác, đạt hiệu quả cao.