đặt vấn đề và trình bày quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề (chứ không phải đơn thuần nêu lời giải). Trong quá trình giải quyết vấn đề có mò mẩm dự đoán, có lúc thành công, có lúc thất bại. Phải điều chỉnh phương hướng mới đi đến kết quả. Như vậy NTH: Hoaøng AÙi Thö Trang 6 Luan van Luaän vaên thaïc só Caûi tieán phöông phaùp giaûng daïy nhaèm hình thaønh kyõ naêng giaûi quyeát vaán ñeà kiến thức được trình bày bằng cách mô phỏng và rút gọn quá trình khám phá thực tế (kiểu qui nạp hoặc diễn dịch: giải quyết từng phần; kế thừa, phát triển; so sánh đối chiếu).
- Đàm thoại giải quyết vấn đề: Giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề, học sinh giải quyết vấn đề không hoàn toàn độc lập mà có sự gợi ý dẫn dắt của giáo viên khi cần thiết. Phương tiện để thực hiện hình thức này là những câu hỏi gợi mở nêu vấn đề của giáo viên và những câu trả lời hoặc hành động đáp lại của học sinh có sự đan kết với nhau hoặc giáo viên tạo ra tình huống, đặt các câu hỏi gợi mở, học sinh tự lực giải quyết vấn đề ghi lại trên giấy, giáo viên hệ thống cách giải đáp và lựa chọn một phương án tối ưu. - Tự nghiên cứu vấn đề: Ở dạng này tính độc lập của học sinh được phát huy cao độ, thầy giáo chỉ tạo ra tình huống có vấn đề, học sinh tự phát hiện ra vấn đề, độc lập nghiên cứu vấn đề và thực tập tất cả các khâu cơ bản của quá trình này để giải quyết vấn đề. Ƣu điểm: - Học sinh nhớ lâu kiến thức lĩnh hội.
- Phát triển tư duy phê phán sáng tạo. - Phát triển kỹ năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề trong hoạt động nghề nghiệp. - Luyện tập kỹ năng quyết định. Nhƣợc điểm: - Mất nhiều thời gian trên lớp so với các phương tiện khác.
- Hạn chế ở một số nội dung học tập. - Ít tài liệu tham khảo.3 Phương pháp làm việc theo nhóm [6,tr154]: Là phương pháp giao cho nhóm nhỏ sinh viên có trách nhiệm cùng hoàn tất nội dung học tập. Phương pháp này giúp sinh viên rèn luyện khả năng giao tiếp, hợp tác, khả năng quản lý và lãnh đạo nhóm. Phương pháp làm việc theo nhóm coi trọng việc học tập mang tính độc lập tư duy, khả năng tương tác, khả năng tự khám phá của sinh viên.
Thông qua phương pháp này sinh viên phát triển khả năng đánh giá, phân tích, suy luận, khả năng điều chỉnh và áp dụng kiến thức của sinh viên vào thực tiễn. Phân loại: - Phụ đạo: dạy lẫn nhau. - Hợp tác: cùng thực hiện một nội dung học tập, một chủ đề, hoặc bài tập lớn do giáo viên giao. - Cùng xây dựng kiến thức: thảo luận, trao đổi, thống nhất ý kiến và đưa ra kết luận có giá trị.
NTH: Hoaøng AÙi Thö Trang 7 Luan van Luaän vaên thaïc só Caûi tieán phöông phaùp giaûng daïy nhaèm hình thaønh kyõ naêng giaûi quyeát vaán ñeà Ƣu điểm: - Thúc đẩy hoạt động học tập một cách chủ động, tích cực, sáng tạo, qua đó tăng cường khả năng tự học của sinh viên. - Tăng cường khả năng hợp tác giữa cá nhân và tập thể nhóm. - Giáo viên đánh giá khả năng và nhu cầu cụ thể của từng sinh viên. - Giảm giờ lý thuyết trên lớp, tăng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Khuyết điểm: - Phương pháp chỉ thành công với nhóm nhỏ, hiệu quả nhất từ 4-20 sinh viên, tùy chủ đề và hình thức. - Giáo viên và sinh viên tốn nhiều công sức và thời gian để hoàn thành bài tập lớn có chất lượng. - Nếu quản lý không hiệu quả, khối lượng công việc sẽ dồn vào một số sinh viên và sẽ không công bằng trong đánh giá.4 Phương pháp thảo luận [12, tr 24]: Khái niệm: Là sự gặp gỡ trực diện giữa giáo viên và sinh viên, hoặc giữa sinh viên với sinh viên dưới sự chỉ đạo của giáo viên nhằm để trao đổi tự do những ý tưởng về một thông tin chuyên biệt. Thảo luận là một trong những phương pháp có hiệu quả cao trong việc kích thích tính tích cực của học sinh cung cấp những kiến thức, kinh nghiệm, những thông tin và từ đó rút ra những kết luận phù hợp.
Phân loại: - Thảo luận nhóm nhỏ - Thảo luận lớp xã hội hóa - Thảo luận giải đáp (hay hội thảo) 1.5 Dạy học với sự trợ giúp của phương tiện dạy học [12, tr 6]: Phương tiện dạy học có thể đóng nhiều vai trò trong quá trình dạy học. Các phương tiện dạy học thay thế cho những sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà giáo viên và sinh viên không thể tiếp cận trực tiếp được. Chúng giúp cho giáo viên phát huy tất cả các giác quan của sinh viên trong quá trình truyền thụ kiến thức, do đó giúp cho sinh viên nhận biết được quan hệ giữa hiện tượng và tái hiện được khái niệm, quy luật làm cơ sở cho việc đúc kết, rút kinh nghiệm và áp dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất. Phương tiện dạy học có các đặc trưng chủ yếu như sau: - Có thể cung cấp cho sinh viên các kiến thức một cách chuẩn xác.
Thông tin sinh viên thu nhận được, trở nên đáng tin cậy và được nhớ lâu bền hơn. - Làm cho việc giảng dạy trở nên cụ thể hơn, vì vậy tăng thêm khả năng tiếp thu những sự vật, hiện tượng một cách chắc chắn hơn. - Rút ngắn thời gian giảng dạy mà việc lĩnh hội kiến thức của sinh viên lại nhanh hơn. - Giải phóng người thầy khỏi một khối lượng lớn các công việc tay chân, do đó tăng khả năng nâng cao chất lượng dạy học.
NTH: Hoaøng AÙi Thö Trang 8 Luan van Luaän vaên thaïc só Caûi tieán phöông phaùp giaûng daïy nhaèm hình thaønh kyõ naêng giaûi quyeát vaán ñeà - Dễ dàng gây được cảm tình và chú ý của sinh viên. - Bằng việc sử dụng phương tiện dạy học, giáo viên có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu kiến thức cũng như sự hình thành kiến thức, kỹ năng ở sinh viên. Phân loại : - Phương tiện nghe. - Phương tiện nhìn.
- Máy vi tính và đa phương tiện. Các nguyên tắc sử dụng phƣơng tiện dạy học : - Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đúng lúc: phương tiện dạy học được nâng cao hiệu quả rất nhiều nếu nó xuất hiện đúng lúc nội dung và phương pháp cần đến nó. - Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ: tìm vị trí hợp lý để lắp đặt nó sao cho mọi người có thể nhìn thấy và thao tác thuận tiện. - Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đủ cường độ: đề cập đến nội dung và phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với trình độ tiếp thu và lứa tuổi của sinh viên.
Khái niệm giải quyết vấn đề: 1.1 Khái niệm vấn đề? Theo từ điển tiếng Việt “Vấn đề là sự việc có mâu thuẫn cần giải quyết”. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo: “Vấn đề khi xem xét theo phạm trù tâm lý học là: “Sự phản ánh mâu thuẫn trong quá trình nhận thức khách thể bởi chủ thể, nghĩa là mâu thuẫn trong tư duy”. Vấn đề là một câu hỏi lý thuyết hay thực hành nó có thể là một điều chưa hiểu, một nhiệm vụ nào đấy cần giải quyết (6 , tr 87). Một vấn đề được biểu thị bởi một hệ thống những mệnh đề và câu hỏi (hoặc yêu cầu hành động) thỏa mãn các điều kiện sau: - Câu hỏi chưa được giải đáp hoặc hành động chưa được thực hiện, muốn giải đáp phải tư duy, không chỉ tái hiện.
- Chưa có một phương pháp có tính chất như thuật toán (algorit) để giải đáp câu hỏi hoặc thực hiện hiện yêu cầu đặt ra ( vấn đề không đồng nghĩa với bài tập vì bài tập chỉ yêu cầu sinh viên trực tiếp vận dụng một số quy tắc công thức có tính chất thuật toán). - Câu hỏi chứa đựng điều đã biết để tìm cái chưa biết. - Câu hỏi có thể quan trọng với người này lúc này nhưng không quan trọng với người khác lúc khác. Người ta chia vấn đề thành 3 cấp độ: - Cấp độ 1: liên quan đến bậc nhận thức hiểu và biết.
NTH: Hoaøng AÙi Thö Trang 9 Luan van Luaän vaên thaïc só Caûi tieán phöông phaùp giaûng daïy nhaèm hình thaønh kyõ naêng giaûi quyeát vaán ñeà - Cấp độ 2: bổ sung tình huống, sự kiện vào vấn đề. Nó làm gia tăng kích thích sinh viên trong việc giải quyết vấn đề và đòi hỏi sinh viên giải quyết vấn đề không phải theo cách đơn giản. Ở cấp độ này có thể đưa ra một quyết định nào đó, đặt câu hỏi ở bậc hiểu và áp dụng. - Cấp độ 3: là một vấn đề tốt liên quan đến bậc phân tích, tổng hợp và đánh giá.
Nó liên hệ với thế giới thực, lôi kéo được tất cả sinh viên tham gia giải quyết vấn đề. Nhưng muốn làm được điều đó sinh viên cần nghiên cứu, khám phá tài liệu rồi xét đoán và quyết định dựa trên cơ sở các thông tin đã học. Vấn đề có thể có một hoặc nhiều đáp số dựa trên các giả thiết mà sinh viên đưa ra.2 Khái niệm về tình huống có vấn đề? I. Lécne trong “Dạy học nêu vấn đề” cho rằng “tình huống có vấn đề đặc trưng cho thái độ của chủ thể đối với những khó khăn nảy sinh trong hoạt động lý luận hay thực tiễn.
Những khó khăn trong mâu thuẫn nhận thức, chủ thể phải ý thức được mới nảy sinh nhu cầu tìm tòi cách giải quyết mâu thuẫn đó”. Pêtrôvxky xem xét tình huống có vấn đề như là một yếu tố kích thích tư duy hoạt động được đặc trưng bởi một trạng thái tâm lý xác định của con người, nó kích thích tư duy trước khi con người nảy sinh những mục đích và những điều kiện hoạt động mới, trong đó những phương tiện và những phương thức hoạt động trước đây mặc dù là cần nhưng chưa đủ để đạt được mục đích mới này. Lamm và MG. Jarôsepxky quan niệm tình huống có vấn đề không chỉ nói lên mối quan hệ giữa chủ thể nhận thức mà còn là mối quan hệ giữa chủ thể với thực tế khách quan.
Điều này là hợp lý bởi vì mọi quan hệ của chủ thể với thực tế khách quan chỉ có thể tồn tại trong hoạt động thực tiễn của chủ thể. Như vậy không phải mọi quan hệ của chủ thể với thực tế khách quan đều là có vấn đề mà chỉ có quan hệ nào đó chứa đựng những nhu cầu nhận thức chưa được thỏa mãn của chủ thể.