PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xã hội hiện nay, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất đối với sự phát triển của bất cứ một quốc gia nào trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bởi vì nếu có những con ngƣời tài năng, có năng lực chuyên môn, có bản lĩnh thì việc khai thác và sử dụng các nguồn nhân lực khác mới hiệu quả và mang lại nhiều lợi ích cho xã hội. Trong nền kinh tế thị trƣờng phát triển, Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng trong khu vực và trên thế giới thì mối gắn kết giữa nhà trƣờng và doanh nghiệp là rất quan trọng xuất phát từ yêu cầu khách quan của quy luật kinh tế, quy luật cung cầu, đảm bảo hài hòa lợi ích từ ba bên: Nhà nƣớc – Nhà trƣờng – Doanh nghiệp. Có thể khẳng định rằng mối gắn kết bền vững giữa NT và DN có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lƣợng sản phẩm đào tạo của NT, đồng thời là nguồn nhân lực chất lƣợng đầu vào của doanh nghiệp.
Vì vậy, xây dựng và cũng cố mối gắn kết bền vững giữa NT và DN là yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ bắt buộc và là đòi hỏi của xã hội. Theo văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII. Phƣơng hƣớng, nhiệm vụ của việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực có nội dung: Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài.
Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất ngƣời học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học – công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trƣờng lao động.114,115] Nhà nƣớc khuyến khích cơ sở giáo dục nghề nghiệp và DN liên kết để tổ chức đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội; trong đó doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp 1 Luan van hợp tác trong xác định chuẩn đầu ra, xây dựng chƣơng trình, phát triển đội ngũ giảng viên doanh nghiệp, tổ chức tuyển sinh/ tuyển dụng, tổ chức đào tạo tại doanh nghiệp, ký kết hợp đồng lao động với ngƣời học…; khuyến khích các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hợp tác để tổ chức và công nhận kết quả đào tạo một số modun, môn học lý thuyết và thực hành.2] Mục tiêu tổng quát của chiến lƣợc phát triển dạy nghề là: “ Đến năm 2020, dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo …” [18, Tr 1]. Mục tiêu chiến lƣợc đó cho thấy yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay là phát triển nhân lực có trình độ chuyên môn cao, tác phong công nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trƣờng lao động, đặc biệt là đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các DN của đất nƣớc, phù hợp với xu hƣớng chung của khu vực và trên thế giới. Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng LKĐT nghề “Cắt gọt kim loại” giữa Trƣờng CĐN TP.HCM và DN trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động LKĐT.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nhiệm vụ 1: nghiên cứu cơ sở lý luận về LKĐT nghề “Cắt gọt kim loại” giữa NT và DN. Nhiệm vụ 2: khảo sát thực trạng LKĐT nghề “cắt gọt kim loại” giữa Trƣờng CĐN TP.HCM và DN. Nhiệm vụ 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng LKĐT nghề “Cắt gọt kim loại” giữa Trƣờng CĐN TP.HCM và DN. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu: Các hoạt động LKĐT nghề “Cắt gọt kim loại” giữa trƣờng CĐN TP.HCM và DN.
Đối tƣợng nghiên cứu: Sự LKĐT nghề “Cắt gọt kim loại” giữa trƣờng CĐN TPHCM và DN. Giả thuyết nghiên cứu Hiện nay LKĐT nghề “Cắt gọt kim loại” giữa trƣờng CĐN TP.HCM và DN chƣa chặt chẽ và hiệu quả. Nếu áp dụng các giải pháp mà ngƣời nghiên cứu đề xuất thì các hoạt động LKĐT nghề “Cắt gọt kim loại” giữa trƣờng CĐN TP.HCM và DN sẽ đƣợc chặt chẽ, chất lƣợng các nội dung của hoạt động LKĐT đƣợc nâng cao. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập chung nghiên cứu các vấn đề LKĐT với DN nghề “Cắt gọt kim loại” thuộc khoa Cơ khí Chế tạo của Trƣờng CĐN TP.
Phƣơng pháp nghiên cứu 7. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, Sở Lao động – Thƣơng Binh và Xã hội thông qua các văn bản (Nghị quyết, thông tƣ …) đã đƣợc ban hành về lý luận giáo dục, đào tạo , liên kết đào tạo, … Phân tích tổng hợp các tài liệu tại Việt Nam và thế giới về các nội dung và hình thức của LKĐT. Phƣơng pháp khảo sát bằng câu hỏi Khảo sát thực trạng về hoạt động LKĐT nghề “Cắt gọt kim loại” giữa Trƣờng CĐN TP.HCM và DN, từ kết quả khảo sát đánh giá tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đƣợc đề xuất. Phƣơng pháp quan sát Sử dụng phƣơng pháp quan sát để tìm hiểu kỹ hơn về thực trạng hoạt động LKĐT hiện tại nghề “Cắt gọt kim loại” giữa NT và DN từ đó có những phân tích và rút ra nhận xét về việc LKĐT nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề “Cắt gọt kim loại” của NT.
Phƣơng pháp phỏng vấn Sử dụng phƣơng pháp phỏng vấn để thu thập thông tin từ các chuyên gia là cán bộ quản lý của nhà trƣờng và doanh nghiệp, giảng viên, cựu học sinh sinh viên, … từ đó làm rõ thêm thực trạng về hoạt động LKĐT nghề “Cắt gọt kim loại” giữa NT và DN đồng thời đánh giá tính khả thi của các phƣơng pháp đƣợc đề xuất và đánh giá kết quả thực nghiệm. Phƣơng pháp thống kê toán học Sử dụng phƣơng pháp thống kê toán học để xử lý kết quả khảo sát thực trạng hoạt động LKĐT nghề “Cắt gọt kim loại” giữa trƣờng CĐN TP.HCM và DN, thông qua các số liệu sau khi đƣợc xử lý để so sánh, phân tích, tổng hợp và rút ra nhận xét từ đó đƣa ra kết luận tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc LKĐT với DN hiện nay và nêu ra các giải pháp thích hợp về việc LKĐT với DN nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo. 4 Luan van Chƣơng I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về hoạt động LKĐT giữa NT và DN 1.
Trên thế giới Mối quan hệ giữa trƣờng nghề với DN trong đào tạo nghề đã từ lâu đã đƣợc nhiều nƣớc quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề cho ngƣời lao động. Vào giữa thế kỷ XIX (1894) do sự phát triển của công nghiệp, ở Pháp xuất hiện nhiều cuốn sách viết về sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp. Ngƣời ta đã ý thức đƣợc rằng hệ thống nghề trong xã hội rất đa dạng và phức tạp, sự chuyên môn hóa đƣợc chú trọng. Do vậy, nội dung các cuốn sách đƣợc định tính cấp thiết phải hƣớng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, có nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình và phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Đối với các giáo dục phổ thông C. Mác đã chỉ ra các nhiệm vụ cơ bản “Một là, giáo dục trí tuệ; Hai là, giáo dục thể chất; Ba là, dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm đƣợc những nguyên lý cơ bản của tất cả các quy trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng công cụ sản xuất đơn giản nhất”. [10] Các nƣớc phát triển trên thế giới luôn đề cao công tác đào tạo nghề nên học sinh đƣợc định hƣớng nghề nghiệp rất tốt ngay khi còn học phổ thông. Ở Nhật, Mỹ, Đức …ngƣời ta xây dựng nên các bộ công cụ để kiểm tra giúp phân hóa năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có sự định hƣớng nghề nghiệp đúng đắn từ sớm.
Cho nên, với họ giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy mà còn chủ ý định hƣớng cho học 5 Luan van sinh về nghề nghiệp phù hợp với năng lực bản thân, đồng thời trang bị cho học sinh kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội. “Trình độ đào tạo công nhân lành nghề ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào sự kết hợp đúng đắn giữa dạy trong trƣờng với thực tập sản xuất ở xí nghiệp … nếu thiếu nguyên tắc kết hợp dạy học với lao động sản xuất thì hệ thống dạy nghề không thể đào tạo công nhân lành nghề đƣợc” [7] Từ năm 1969, lần đầu tiên trong lịch sử, trƣờng đại học Cambridge với 700 năm lịch sử đã bƣớc vào con đƣờng “Công ty đại học”…Ngày nay, xu thế các trƣờng đại học liên kết với các xí nghiệp ngày càng nhiều ở Mỹ và một số nƣớc Châu Âu, công ty đại học đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu, tạo thời cơ phát triển cho trƣờng đại học và xí nghiệp. Các công ty đại học này có một số đặc điểm sau: 1. Dùng phƣơng thức thị trƣờng để thu hút sinh viên, mời các học giả nổi tiếng đến giảng dạy.
Việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học trực tiếp hƣớng về sản xuất, về quản lý kinh doanh, có thể làm gia tăng thu nhập tài chính và nhân đó không ngừng cải thiện điều kiện xây dựng trƣờng, nâng cao địa vị của trƣờng. Mối quan hệ giữa nhà trƣờng và doanh nghiệp ngày càng mật thiết, trƣờng học và xí nghiệp tƣơng hỗ, tƣơng lợi, bình đẳng về lợi ích trên phƣơng diện dịch vụ kỹ thuật, do vậy mà tăng cƣờng hợp tác giữa các bên. Do những ƣu điểm nhƣ vậy mà các “công ty đại học” mọc lên nhƣ nấm, từ nƣớc Mỹ đến Châu Âu, rồi đến toàn thế giới “công ty đại học” với những hình thức khác nhau và sự ra đời của xí nghiệp hóa trƣờng học, báo trƣớc sự phát triển quan trọng của sự phát triển giáo dục. Jacques Delors, Chủ tịch ủy ban Quốc tế độc lập về giáo dục cho thể kỷ XXI của UNESCO khi phân tích “những trụ cột của giáo dục” đã viết: “học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học để làm ngƣời”.