PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Trong những năm gần đây, việc đổi mới công tác giáo dục diễn ra rất sôi động trên thế giới và ở Việt Nam. Giáo dục đào tạo có vị trí quan trọng để phát triển nguồn nhân lực và quyết định sự thành công trong công cuộc xây dựng một đất nước. Tại Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam, đã xác định mục tiêu rõ ràng về giáo dục là “Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học” và “Phát triển hệ thống kiểm định chất lượng và công bố công khai kết quả kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo”.
Vì vậy, việc kiểm định chất lượng giáo dục của các quốc gia đang là một hoạt động thường xuyên của các trường, các cơ sở dạy nghề trong việc khẳng định chất lượng giáo dục hiện nay để cùng hội nhập.1 Bối cảnh ở thế giới: Trong bối cảnh thế giới hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế đã dẫn đến quốc tế hóa, đại chúng hóa, cạnh tranh và hợp tác toàn cầu trong giáo dục. Những xu thế này dẫn đến sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống giáo dục sao cho chúng có thể so sánh với nhau, được đánh giá để công nhận và thừa nhận lẫn nhau. Trong nhiều nước Châu Âu trước đây, đảm bảo chất lượng được sử dụng như một hệ thống đánh giá bên ngoài mà không cần phải có một sự công nhận chính thức các kết quả đạt được. Tuy nhiên, một xu hướng mới hiện nay được hình thành là xúc tiến xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng trong mỗi quốc gia Châu Âu.
Ngoài ra, một số quốc gia còn sử dụng những hoạt động đảm bảo chất lượng khác như xếp hạng, sử dụng các chỉ số hoạt động và phương pháp kiểm tra đánh giá nhằm khẳng định vị trí chất lượng giáo dục của mình. Tại một số trường đại học của Châu Á, có một xu hướng “quảng cáo - tiếp thị” là nhà trường đã thực hiện đánh giá chất lượng theo chứng chỉ ISO 9000 vốn được biết đến với sự áp dụng rất phổ biến của nó trong các ngành nghề sản xuất, công nghiệp. Các trường này cho rằng hệ thống chứng chỉ chất lượng ISO giúp các trường đo lường được chất lượng đầu vào và quá trình đào tạo của mình. Tuy nhiên, hiện nay ở Châu Á 1 Luan van chưa có một hệ thống đảm bảo chất lượng nào lồng ghép, kết hợp với hệ thống đánh giá theo tiêu chuẩn ISO vào trong quá trình thực hiện đảm bảo chất lượng quốc gia.
Tại Australia: Hệ thống đảm bảo chất lượng dạy nghề của Australia được thực hiện chặt chẽ và thống nhất ngay từ khâu cấp phép thành lập các cơ sở dạy nghề cho đến việc giám sát hoạt động của các cơ sở này cũng như việc kiểm định chất lượng các chương trình, khóa đào tạo nghề. Từ tháng 7/2011, các hoạt động đảm bảo chất lượng dạy nghề do Cơ quan quản lý chất lượng kỹ năng nghề Australia (ASQA) quản lý. Đây là tổ chức quản lý cấp quốc gia hoạt động độc lập được thành lập với mục đích điều tiết hiệu quả và đảm bảo sự áp dụng nhất quán về tiêu chuẩn, quy trình, công cụ thẩm định, kiểm định chất lượng trong toàn hệ thống dạy nghề của Australia. Tại Hoa Kỳ: Giáo dục Hoa Kỳ được thừa nhận rộng rãi là có chất lượng trên thế giới.
Thành công này một phần do Mỹ đã xây dựng được hệ thống kiểm định chất lượng hoàn chỉnh, linh động, hiệu quả, và thực sự hỗ trợ cho cải tiến chất lượng. Khác với phần lớn các nước trên thế giới, Chính phủ Liên bang cũng như Chính phủ Bang tại Mỹ không trực tiếp thực hiện công tác kiểm định chất lượng. Thay vào đó, nhà nước chỉ quản phần kiểm soát và công nhận tư cách pháp lý của các tổ chức kiểm định nói trên. Có hai cơ quan công nhận (accrediting agencies) các tổ chức kiểm định là Bộ Giáo dục liên bang (USDE) và Hội đồng Kiểm định chất lượng Giáo dục Đại học (CHEA), trong đó USDE là cơ quan nhà nước và CHEA là cơ quan độc lập được các trường và các tổ chức kiểm định thừa nhận.
Để được chứng nhận chất lượng, các trường phải vượt qua các thủ tục và qui trình kiểm định chặt chẽ, trong đó gồm: cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, qui trình quản lý, chất lượng đầu ra, dịch vụ cho sinh viên….Việc kiểm định để chứng nhận chất lượng được thực hiện theo định kỳ, đòi hỏi trường có sự cam kết, tự đánh giá, luôn phát triển và thực hiện cải tổ. Một số nước Đông Nam Á cũng đã thành lập cơ quan kiểm định quốc gia như: BDAC (Brunei), BAN-PT (Indonesia), LAN (Malaysia), FAAP (Philipines), ONESQA (Thái Lan). Trọng tâm kiểm định của mỗi quốc gia đều có sự định hướng khác nhau. Những nước như Indonesia thực hiện kiểm định ở cấp chương trình trong khi đó Malaysia, Brunei và Thái Lan thực hiện kiểm định ở cấp trường.
Nhưng mục đích cuối 2 Luan van cùng là các nước đều phấn đấu đạt được chuẩn mực chung về chất lượng giáo dục và khẳng định chất lượng giáo dục của mình thông qua quá trình kiểm định. Trong bối cảnh quốc tế sôi động đó, sự cạnh tranh thị trường lao động có trình độ cao đang ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi hệ thống dạy nghề tại Việt Nam phải thực hiện kiểm định chất lượng dạy nghề, để khẳng định chất lượng dạy nghề của các trường dạy nghề và nhất là trong thời kỳ hội nhập.2 Bối cảnh tại Việt Nam: Kiểm định chất lượng giáo dục là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam. Có thể nói, ở cấp hệ thống, nó được bắt đầu từ khi Phòng kiểm định chất lượng Đào tạo trong vụ Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo được thành lập từ tháng 01 năm 2002, sau đó được mở rộng cho các cấp học và trình độ đào tạo khác kể từ năm 2003, sau khi Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập. Kiểm định chất lượng được đẩy mạnh từ tháng 12 năm 2004 khi Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học được ban hành và được tiếp tục củng cố và phát triển gắn với việc ban hành các quy trình và các tiêu chuẩn kiểm định khác.
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai kiểm định chất lượng giáo dục theo mô hình được nhiều nước trên thế giới sử dụng, đặc biệt là mô hình kiểm định của Hoa Kỳ: đó là quá trình đánh giá bởi một tổ chức không thuộc các cơ sở giáo dục để công nhận các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng. Trong thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai công tác đảm bảo chất lượng (theo nghĩa rộng), kiểm định chất lượng (theo nghĩa hẹp). Việc kiểm định chất lượng giáo dục ngày càng trở nên phổ biến hơn bởi nó chứng tỏ là một công cụ hữu hiệu giúp các trường học duy trì các chuẩn mực chất lượng giáo dục và không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học. Có thể nhận thấy rằng, kiểm định chất lượng giáo dục nói chung và kiểm định chất lượng dạy nghề nói riêng là vấn đề còn mới mẻ ở Việt Nam.
Năm 2008 đã đánh dấu bước ngoặc đặc biệt quan trọng đó là việc hình thành hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng dạy nghề Việt Nam với sự ra đời của những quy định cơ bản về hoạt động kiểm định chất lượng dạy nghề, bao gồm Quy định về hệ thống tiêu chí, tiêu 3 Luan van chuẩn kiểm định chất lượng trường Cao đẳng nghề (Quyết định số 02/2008/QĐ- BLĐTBXH) và Quy định về về hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường Trung cấp nghề (Quyết định số 01/2008/QĐ-BLĐTBXH) đều vào ngày 17/ 01/2008 và sau đó là Quy định về Kiểm định viên chất lượng dạy nghề (Quyết định số 07/2008/QĐ-BLĐTBXH) và Quy định về Quy trình kiểm định chất lượng dạy nghề (Quyết định số 08/2008/QĐ-BLĐTBXH) ban hành ngày 25/03/2008. Ở giai đoạn này, các CSDN đã bắt đầu làm quen với các tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm định chất lượng. Cuối năm 2008, 15 CSDN đầu tiên của Việt Nam đã tham gia thực hiện thí điểm quy trình kiểm định chất lượng. IIG Việt Nam - đại diện của Viện khảo thí giáo dục Hoa Kỳ (Educational Testing Service) và CQAIE Việt Nam - đại diện của Trung tâm đảm bảo chất lượng giáo dục quốc tế (The Center for Quality Assurance in International Education - CQAIE Hoa Kỳ) đã thắng thầu thực hiện Dự án thí điểm kiểm định chất lượng tại 15 CSDN trên.
Tiếp tục thực hiện công tác kiểm định chất lượng dạy nghề, 15 trường cao đẳng nghề và 05 trường trung cấp nghề tiếp theo đã được chọn để tham gia thí điểm kiểm định chất lượng sau khi đã hoàn thành hoạt động tự kiểm định vào tháng 9 năm 2009. Tính đến nay, công tác kiểm định chất lượng dạy nghề đã được đẩy mạnh, trở thành hoạt động thường xuyên đối với nhiều cơ sở dạy nghề. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ về tự kiểm định chất lượng cơ sở dạy nghề và kiểm định viên chất lượng dạy nghề. Theo Tài liệu Hội nghị công bố Kết quả kiểm định chất lượng dạy nghề năm 2013, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng cục dạy nghề, tháng 7/2014, số cơ sở dạy nghề có cán bộ, giáo viên là kiểm định viên là 286 cơ sở, trong đó có: * 119 trường cao đẳng nghề (chiếm 73,4% tổng số 162 trường cao đẳng nghề trong hệ thống).
* 42 trường trung cấp nghề (chiếm 14% tổng số 302 trường trung cấp nghề trong hệ thống). Công tác tự kiểm định chất lượng dạy nghề của cơ sở nghề đã có nôi dung hướng dẫn thực hiện tự kiểm định chất lượng dạy nghề đối với các trường cao đẳng 4 Luan van nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề theo quy định tại Thông tư số 42/2011/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2011 về quy trình thực hiện kiểm định chất lượng dạy nghề. Nhận thấy được tầm quan trọng và tính khả thi để ứng dụng vào thực tế để kiểm định chất lượng dạy nghề cũng như hướng phát triển lâu dài đảm bảo chất lượng nghề nghiệp để hòa nhập với quốc tế; Đã trực tiếp làm công tác tự kiểm định tại trường Cao đẳng nghề TP. Qua thực tế cho thấy các CSDN còn nhiều lúng túng trong quy trình thực hiện theo hướng dẫn của bảng đánh giá tiêu chuẩn, tiêu chí, khó khăn trong việc tổ chức thu thập, phân tích và xử lý hồ sơ minh chứng của các tiêu chí, tiêu chuẩn, chỉ số trong quá trình tự kiểm định chất lượng dạy nghề.