Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘNG CƠ HỌC TẬP VỚI THÀNH TÍCH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về động cơ học tập và thành tích học tập 1. Trên thế giới Về động cơ học tập Lịch sử nghiên cứu về động cơ học tập có từ rất sớm và đến nay trở thành một lĩnh vực nghiên cứu mạnh cả về lý luận lẫn thực tiễn. Dưới đây là một số tác giả tiêu biểu trên thế giới.
Thorndike (1874 – 1949), người đại diện cho Thuyết hành vi tạo tác, là nhà tâm lý học Động vật Mỹ. Theo ông, ĐCHT là sự kích thích hướng hành vi đạt tới một kết quả. Cho nên các yếu tố của ĐCHT bao gồm yếu tố bên trong mang tính chủ quan và các yếu tố bên ngoài mang tính khách quan [28]. Hull (1884 – 1952) cho rằng, động cơ là cần thiết cho quá trình học tập và là điều cốt lõi cho sự thích nghi có hiệu quả.
Ông nhấn mạnh vai trò sự căng thẳng trong động cơ và cho rằng việc giảm căng thẳng có ý nghĩa củng cố. Theo quan điểm này, các xung năng sơ cấp có cơ sở sinh học được khơi dậy khi sinh vật bị tước đoạt. Những xung năng này hoạt hóa sinh vật, khi được thỏa mãn hoặc giảm thiểu thì sinh vật ngừng hoạt động. Thuyết giảm xung năng mang ý nghĩa cân bằng nội tại vì nó cho rằng một sinh vật bị khơi dậy xung năng là để duy trì thế cân bằng nội tại, một thế cân bằng bên trong các hệ và các quá trình của cơ thể.
Thuyết giảm xung năng cân bằng nội tại này của động cơ và học tập đã có ảnh hưởng cho tới giữa những năm 1950 khi nó bị thách thức bởi các dữ kiện mới [22]. Runbinstein (1902 – 1960) khi phân tích ĐCHT, ông mô tả các loại ĐCHT biểu hiện ra bên ngoài thông qua hứng thú của học sinh. Theo ông, ĐCHT như là mối quan hệ của trẻ đối với cái thúc đẩy trẻ học tập. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại mô tả các loại ĐCHT trên bình diện chủ quan, mà tác giả chưa chú ý đến mặt khách quan của ĐCHT, cái phản ánh bản chất của ĐCHT [26].
Leonchiev với công trình “Sự phát triển ĐCHT của học sinh”, cho rằng ĐCHT là sự định hướng của trẻ vào việc lĩnh hội tri thức và đạt được điểm số cao, cũng như để cha mẹ, thầy cô giáo và các bạn khen. Cũng trong công trình nghiên cứu của mình, ông chia động cơ thành động cơ “hiểu biết” và động cơ “hành động”. Động cơ “hiểu biết” trong những điều kiện nhất định nào đó sẽ trở thành động cơ “hành động”. Ông cho rằng quá trình học tập của học sinh chỉ có kết quả tốt khi học sinh có thái độ cần thiết đối với quá trình đó.
Vì vậy, theo ông thì việc giáo dục ĐCHT không thể tách rời cuộc sống và hoạt động của học sinh [12]. Leonchiev là người đại diện tiêu biểu cho dòng phái Tâm lý học Mác- xít, đã có những nghiên cứu đầy đủ và rõ ràng về lý luận động cơ của con người. Những kết quả nghiên cứu của ông đã được nhiều nhà Tâm lý học trên thế giới vận dụng và phát triển để làm cơ sở khi nghiên cứu về động cơ của con người. Alekseeva đã nghiên cứu đặc điểm học tập của học sinh lớp 5 và lớp 8, xác định con đường hình thành ĐCHT tích cực cho học sinh.
Ông cho rằng ĐCHT của học sinh chia thành nhóm rất rõ ràng. Những động cơ khác nhau trong đa số trường hợp có liên hệ qua lại với nhau, trong đó có một động cơ là cơ bản, những động cơ kia là thứ yếu [3]. Có thể tổng hợp như sau, những nghiên cứu của các nhà tâm lý học trên thế giới, các tác giả đều cho rằng ĐCHT có vai trò rất lớn trong học tập của người học, đó là sự kích thích, thúc đẩy và định hướng người học vào hoạt động học tập; có nhiều loại động cơ học tập, bao gồm yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong; động cơ được chia thành các nhóm rõ ràng, một động cơ cơ bản và những động cơ còn lại là thứ yếu. 6 Luan van Về thành tích học tập Nghiên cứu về TTHT/KQHT của SV, cụ thể là những yếu tố tác động đến KQHT của SV đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ rất sớm.
Các nghiên cứu đã chỉ ra ở nhiều khía cạnh, các yếu tố khác nhau tác động đến KQHT của SV. Tác giả Gonzales NA (1996), nghiên cứu đã chỉ ra các mối quan hệ gia đình, bạn bè và khu phố ảnh hưởng đến KQHT của thanh thiếu niên người Mỹ gốc Phi Châu. Nghiên cứu đã kiểm tra ảnh hưởng của các biến trạng thái gia đình (thu nhập gia đình, giáo dục của cha mẹ, cấu trúc gia đình), các biến phụ huynh (hỗ trợ và mức độ kiểm soát của người mẹ), hỗ trợ của bạn bè và yếu tố khu phố trên 120 HS Trường Trung học người Mỹ gốc Phi Châu. Ngoài các tác động chính của các biến này, yếu tố khu phố đã được kiểm tra và cho kết quả là có vai trò tác động đến cha mẹ và sự hỗ trợ của bạn bè.
Các biến trạng thái gia đình không tiên đoán được kết quả học đường của thanh thiếu niên. Sự hỗ trợ của người mẹ ở giai đoạn 1 liên quan đến thanh thiếu niên ở giai đoạn 2. Yếu tố khu phố có liên quan ít hơn, trong khi sự hỗ trợ của bạn bè có mức điểm cao hơn qua các phân tích. Yếu tố khu phố cũng ảnh hưởng thấp đến độ kiểm soát của người mẹ và sự hỗ trợ của bạn bè đối với thanh thiếu niên trong các phân tích [31].
Tác giả Muhamad Daniyal & ctg (2011) tập trung chủ yếu vào những yếu tố về nhân khẩu học, tác giả đưa ra mô hình gồm 8 yếu tố có tác động đến kết quả học tập của sinh viên gồm: Thu nhập gia đình, trình độ của cha, trình độ của mẹ, quy mô gia đình, những động cơ thúc đẩy của cha và mẹ, những hoạt động ngoại khóa, chuẩn mực của giảng viên, sự thích thú đối với môn học. Kết quả nghiên cứu tình huống tại Đại học Islamia ở Pakistan cho thấy hầu hết các nhân tố đều có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 90%, 95%, 99%. Muhamad Daniyal & ctg sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng có độ tuổi từ 19- 21, từ 22- 25 và từ 25 tuổi trở lên [34Error! Reference source not found. 7 Luan van Tác giả Irfan Mushtaq & Shabana Nawaz Khan (2012) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của SV, trọng tâm của nghiên cứu là kết quả kiểm tra cao của SV có liên quan với cách tiếp cận của SV đối với truyền thông, phương tiện học tập, sự hướng dẫn thích hợp và áp lực của gia đình.
Nghiên cứu dựa trên hồ sơ SV và dữ liệu thu thập thông qua đánh giá của SV của một nhóm các trường cao đẳng tư nhân [32]. Singh và ctg (2016) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của sinh viên; nghiên cứu chỉ ra rằng, cơ sở vật chất, kỹ năng giao tiếp và sự hướng dẫn phù hợp từ cha mẹ có ảnh hưởng mạnh đến KQHT của SV [35]. Nhìn chung, các nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ gia đình, bạn bè, khu phố, thu nhập gia đình, trình độ của cha, trình độ của mẹ, quy mô gia đình, những động cơ thúc đẩy của cha và mẹ, những hoạt động ngoại khóa, chuẩn mực của giảng viên, sự thích thú đối với môn học, phương tiện truyền thông, phương tiện học tập, sự hướng dẫn từ cha mẹ, kỹ năng giao tiếp, cơ sở vật chất có ảnh hưởng mạnh đến KQHT của sinh viên. Tại Việt Nam Về động cơ học tập Tác giả Phạm Thị Hồng Thái trong Luận văn Thạc sỹ: “Động cơ học tập của sinh viên ngành Tâm lý học Trường Đại học Văn Hiến” đã chỉ ra rằng có sự tồn tại song song giữa những động cơ học tập đúng đắn với những động cơ không đúng đắn ở sinh viên, do đó cần phải có những biện pháp giáo dục động cơ để sinh viên hoàn thành động cơ học tập của mình [24, 52].
Tác giả Phạm Văn Sỹ trong Luận văn Thạc sỹ “Động cơ học tập của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra kết luận: động cơ học tập của sinh viên Trường Nhân văn được thúc đẩy bởi nhiều loại động cơ khác nhau trong đó nổi bật là động cơ hoàn thiện tri thức và yếu nhất là động cơ xã hội. Đa số sinh viên đều có động cơ học tập đúng đắn thể hiện qua mục đích, thái độ và hành vi trong học tập [22, 81]. 8 Luan van Tác giả Trần Nguyễn Hương Giang trong luận văn Thạc sỹ: “Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của học sinh trung học Marie Curie, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra kết luận: trong quá trình tiến hành hoạt động học tập, động cơ học tập sẽ được hình thành theo hai hướng là động cơ xuất phát từ hoạt động học tập và từ mối quan hệ của chủ thể với môi trường xung quanh. Mặt khác, động cơ học tập của học sinh được thúc đẩy bởi một hệ thống động cơ, trong đó có những động cơ đóng vai trò chủ yếu và có những động cơ đóng vai trò thứ yếu.
Nhóm động cơ lĩnh hội tri thức luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học sinh [7, 83]. Luận án Tiến sỹ Tâm lý học của Dương Thị Kim Oanh, tác giả đề cập đến một số hướng tiếp cận trong nghiên cứu động cơ học tập như phân tâm học, hành vi, nhân văn, nhận thức, học tập xã hội và văn hóa xã hội. Tác giả khẳng định việc tìm hiểu các hướng tiếp cận trong nghiên cứu về động cơ học tập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định rõ bản chất, phân loại, biểu hiện và các nhân tố tác động đến động cơ học tập của người học, từ đó có cơ sở lý luận vững chắc lượng hóa các khía cạnh nội dung (cái mà con người muốn vươn tới, muốn đạt tới) và khía cạnh lực (phản ánh độ mạnh của động cơ) trong học tập của người học, “Tác giả chọn cách phân loại động cơ học tập của F.