Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Từ thời cổ đại các nhà sư phạm như Khổng Tử, Aristot,… đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực, chủ động của HS và đã nói lên nhiều biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh trong quá trình học tập. Trong thời Phục Hưng từ thế kỷ 16 cho đến thế kỷ 19 có nhiều tác giả tiêu biểu đề cập đến quan điểm này.
Socrat (469- 339 TCN) nhà Triết học nổi tiếng với câu nói: “hãy tự biết mình” như là một kim chỉ nam cho những người yêu mến tri thức, yêu mến việc tự học, người thầy vĩ đại của Hy Lạp cổ đại đã dạy học trò của mình bằng nhiều cách và luôn đặt ra các câu hỏi gợi mở nhằm giúp người học dần dần phát hiện ra chân lý, Ông đã dùng phương pháp vấn đề hay còn gọi là “phương pháp tiêu dao” để giảng dạy cho học trò. phương châm sống của ông là “…. Sự tự nhận thức, nhận thức chính mình…” [16, tr.35], Aristotle (384-322 TCN) với “giáo dục đối thoại lý luận thực tế và đa dạng”… Đó là những cơ sở tiền đề cho việc hình thành xu hướng dạy học tập trung hướng vào việc chủ động, tự lực chiếm lĩnh tri thức của người học ở những giai đoạn sau. Ở Pháp, lý thuyết tình huống được Guy Brousseau - Viện Đại học đào tạo giáo viên ở Gremnoble - Pháp phát triển từ những năm 1990.
Lý thuyết này đã trở thành công cụ đắc lực cho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ngành giáo dục Toán học dựa trên cơ sở phân tích mối quan hệ của các nhân tố: giáo viên, học sinh, tri thức và môi trường [29, tr. Vào thế kỷ 20, lý luận giáo dục phát triển mạnh mẽ, đã xuất hiện nhiều quan điểm hiện đại như dạy học nêu vấn đề, chương trình hóa dạy học… tiêu biểu như: John Dewey (1859-1952), nhà giáo dục người Mỹ đã đứng đầu trong việc kế thừa và phát triển trào lưu giáo dục mới - “giáo dục tích cực”. Các nhà giáo dục trong trào lưu này chủ trương không đánh đồng tất cả các sinh viên như nhau mà chú trọng đến từng cá nhân. Dewey cho rằng sinh viên sẽ học được nhiều những gì mà các em được tiếp xúc trực tiếp, được thấy nhiều hơn là học thuộc lòng.
Dewey và các nhà tư tưởng thuộc xu hướng “giáo dục tích cực” nhấn mạnh đến cách tổ chức lớp học. Theo hướng này, bàn ghế trong lớp học có thể thay đổi tùy theo sự sắp xếp linh động của giáo viên sao cho thích hợp với phương pháp và đề tài giảng 5 Luan van dạy. Sinh viên được di chuyển xung quanh lớp học, được trao đổi với bạn bè, đặt câu hỏi với giáo viên… Tài liệu học tập không bị gói gọn trong giáo khoa hay tài liệu giảng dạy trên lớp mà giáo viên còn hướng dẫn sinh viên tìm tòi thêm các tài liệu khác trong trường cũng như ngoài xã hội. Sinh viên được chia theo nhóm học tập để thuận lợi tìm tài liệu học tập và trao đổi ý kiến.
Giáo viên soạn bài riêng cho từng giờ học với những chủ điểm có trong sách giáo khoa, theo lượng thời gian đã được qui định. Khi lên lớp, giáo viên không còn “độc giảng” như trước mà đóng vai trò hướng dẫn, đặt câu hỏi cho sinh viên bàn luận và lần lượt phát biểu ý kiến. Ngoài phương pháp thảo luận trong lớp, sinh viên còn có thể dùng các loại hình nghệ thuật khác như kể chuyện, đóng kịch để minh họa. Nước Mỹ đã diễn ra một phong trào cải cách giáo dục rộng lớn.
Tư tưởng định hướng quan trọng của cuộc cải cách này là chuyển từ dạy học lấy người dạy làm trung tâm sang quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, nhằm phát huy tính tích cực của HS trong quá trình dạy học. Các tác giả của quan điểm này là J. Roger, Skinner,… Dạy học lấy SV làm trung tâm đề cao hứng thú cá nhân cũng như vai trò chủ động, tự lực của HS trong toàn bộ quá trình học cũng như trong việc lựa chọn nội dung dạy học, nhằm khắc phục kiểu dạy học áp đặt một chiều từ phía người dạy. Theo Roger Johnson và David Johnson cho rằng phần nhiều thời gian dạy học dành cho các tương tác HS – GV và HS – tài liệu, còn tương tác HS – HS thì hầu như ít được quan tâm.
Trong một tình huống học hợp tác, sự tương tác được đặc trưng bởi việc khẳng định sự phụ thuộc lẫn nhau về mục đích với trách nhiệm cá nhân. Sự phụ thuộc về mục đích đòi hỏi sự chấp nhận của nhóm là họ sẽ cùng bơi hoặc cùng chìm. Bên cạnh đó, Roger Johnson và David Johnson cũng cho rằng, có một khác biệt giữa “chủ trương HS làm việc trong một nhóm” và cấu trúc làm việc hợp tác với một nhóm HS ngồi cùng bàn và làm việc của họ, nhưng được tự do nói với những HS khác khi làm việc, không được cấu trúc để là một nhóm hợp tác khi không có sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau. Tương tự, một nhóm HS được phân công làm một báo cáo mà chỉ có một HS quan tâm và làm tất cả công việc trong khi những HS khác thì rong chơi cũng không phải là một nhóm hợp tác.
Một nhóm hợp tác có một ý thức về trách nhiệm cá nhân có nghĩa là tất cả học sinh cần nắm vững kiến thức và cùng góp sức để nhóm thành công [38, tr. Trong sách “Giáo dục - của cải nội sinh” của Ủy ban giáo dục UNESCO, tác giả Giắc Đờ - Lo đã đưa ra nhận định về cải cách phương pháp sư phạm trong nhà trường ở thế kỷ XXI theo hướng tích cực, một hướng trong đổi mới sư phạm hiện nay. Trong đó, tác giả đã khẳng định phương pháp tương tác GV - HS giữ vai trò 6 Luan van trung tâm trong nhà trường hiện đại. Nội dung của tác phẩm đã phân tích rõ vai trò, vị trí của HS - GV - môi trường và nhấn mạnh sự tương tác của ba nhân tố này trong hoạt động dạy học.
Cuốn sách này đã được các nhà LLDH đánh giá là bổ ích, giúp giáo viên có thêm nghiệp vụ sư phạm, góp phần nâng cao chất lượng công việc “trồng người” cao quý của nghề nhà giáo [31, tr. Trên thế giới việc dạy kỹ năng mềm (KNM) bắt đầu được đề cập đến không phải từ các cơ quan giáo dục mà là từ các cơ quan chăm sóc nguồn nhân lực của Cộng đồng chung Châu Âu (EU) ở Canada, rồi lần lượt các nước: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… đề cập đến và trở thành trào lưu thế giới. Vì vậy giáo dục các nước này rất chú trọng trang bị KNM cho SV. Qua nghiên cứu các tài liệu cho thấy người Mỹ có thái độ tự lập, tự chịu trách nhiệm cao, từ nhỏ học đã được giáo dục các kỹ năng để ứng phó vói các tình huống xảy ra và ở Singapore cũng tương tự.
Hiện nay, KNM là một trong những tiêu chí đánh giá kết quả học tập và quyết định chất lượng nguồn nhân lực cao trong thời hội nhập. Trong nước Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của HS đã được đặt ra trong ngành giáo dục Việt Nam từ những năm 1960. Ở thời điểm này, các trường sư phạm đã có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục ở Việt Nam đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về PPDH tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học như Nguyễn Cảnh Toàn, Đặng Thành Hưng, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Kế Hào, Trần Bá Hoành, Lê Khánh Bằng.
Đáng chú ý là các dự án PPDH ở phổ thông, đại học có nhiều công trình nghiên cứu, các tài liệu tập huấn về đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực của người học. Những kết quả nghiên cứu đó giúp chúng ta hiểu sâu hơn về phương pháp tích cực và phát huy tính tích cực của học sinh, sinh viên trong dạy học nói chung. TS Vũ Hồng Tiến: “Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn…”. Nhóm tác giả Nguyễn Thành Hải, Phùng Thúy Phượng, Đồng Thị Bích Thủy với đề tài “Giới thiệu một số PPGD cải tiến giúp sinh viên học tập chủ động và trắc nghiệm đạt các chuẩn đầu ra theo CDIO”.
tại Trung tâm nghiên cứu cải tiến phương pháp dạy và học Đại học trường Đại học Khoa học Tự Nhiên - Đại học Quốc Gia TP. Đề tài đã giới thiệu một số PPGD được cải tiến nhằm giúp sinh viên học 7 Luan van tập chủ động để đạt được các mục tiêu môn học và chương trình đào tạo theo CDIO cũng như đáp ứng được các yêu cầu của xã hội. “Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa theo hướng tích cực hóa người học tại trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng - Ths. Nguyễn Phương Hà.
Đề tài đã nghiên cứu các khái niệm liên quan đến chất lượng dạy học, tìm hiểu về thực trạng giảng dạy môn Hóa tại trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng và đã đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa theo hướng tích cực hóa người học tại trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng. Trên cơ sở đó vận dụng một trong những giải pháp đã đề xuất nhằm nâng cao tính tích cực học tập môn Hóa theo hướng tích cực hóa tại trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng. Với đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh tiểu học trong môn Thủ công - Kỹ thuật”- Ths. Nguyễn Thế Thanh Trúc.
Đề tài này đã nghiên cứu cơ sở lý luận khoa học sư phạm, nội dung chương trình môn Thủ công - Kỹ thuật tại một số trường Tiểu học TP. Cần Thơ, khảo sát thực trạng dạy và học môn Thủ công - Kỹ thuật ở một số trường Tiểu học thuộc TP.