CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANG BỊ KỸ NĂNG MỀM VỚI CƠ HỘI VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm kỹ năng và kỹ năng mềm 1.
Khái niệm kỹ năng Kỹ năng có một sự đa dạng, phong phú trong cách hiểu và xuyên suốt trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong các định nghĩa của nhiều nghiên cứu đã chỉ một cách rõ ràng bên cạnh đó lại có một số đi sâu vào nó như là một lĩnh vực khoa học như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học,. Kỹ năng định nghĩa theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa kỹ năng là: “Tay nghề chuyên môn” [6, Tr 563]. Kỹ năng định nghĩa theo thu thập từ nhiều nguồn từ điển về ngôn ngữ đều cho thấy một số định nghĩa tương đồng [23, Tr 24] như Từ Điển Vần bằng Tiếng Việt của Trần Văn Đạt đã định nghĩa: “Là làm việc gì đó tốt bằng năng lực và sự khéo léo” [2, Tr 378]. Theo từ điển Anh - Việt (English - Vietnamese Dictionary) định nghĩa Kỹ năng (skill) là: “Khả năng làm việc gì tốt, sự khéo léo; sự tinh xảo; (hoặc) loại hình đặc biệt về sự khéo tay” [13, Tr 1635] Cùng với định nghĩa trên từ điển Cambridge mở rộng của Nhà xuất bản Đại học Cambridge có một số định nghĩa về kỹ năng như sau: Khả năng thực hiện một hoạt động hoặc công việc tốt, đặc biệt là vì bạn đã thực hành nó (Từ điển Tiếng Anh Cambridge); Một khả năng đặc biệt để làm một cái gì đó (Từ điển Tiếng Anh - Mỹ); Sự khéo trong làm một việc gì (tính từ); Một khả năng cụ thể mà bạn phát triển thông qua đào tạo và kinh nghiệm và điều đó rất hữu ích trong một công việc [21] Trong số đó có Từ điển Giáo dục học của tác giả Bùi Hiền (2001) định nghĩa Kỹ năng có vài điểm tương đồng với những khái niệm trong: “Kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành 1 Luan van động trí tuệ” [5, Tr 220] Quan điểm xem kỹ năng là một mặt của kỹ thuật của hành động, coi kỹ năng như một phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của con người khi đã nắm vững mà không cần liên quan đến kết quả, nhóm tác giả nghiên cứu khái quát: “Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm”.
Quan điểm còn lại thì xem kỹ năng là biểu hiện của năng lực con người, coi kỹ năng là năng lực thực hiện một công việc kết quả với chất lượng cần thiết, trong một khoảng thời gian cụ thể: “Kỹ năng một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả”. Một hướng khác giải thích khái niệm kỹ năng trên đã được nghiên cứu trong sinh học và tâm lý học chỉ ra rằng chúng có sự liên hệ giữa ý chí của con người với thế giới xung quanh và sự tương tác giữa những hành động đó để đảm bảo hoạt động tồn tại và nhu cầu của con người xuyên suốt cuộc đời. Và như vậy, nhóm có sự đồng tình với quan điểm đầu tiên hơn quan điểm thứ hai mặc dù quan điểm thứ hai cũng trình bày rõ ràng nó phụ thuộc vào kết quả từ đó suy ra tiến trình tạo ra kết quả đó. Giải trình cho nguồn gốc của kỹ năng.
Theo góc độ sinh học thì kỹ năng được nghiên cứu là một hoạt động phản xạ thần kinh cao cấp ở động vật do Ivan Petrovich Pavlov phát hiện thông qua các thí nghiệm, ông thấy rằng: “Phản xạ có điều kiện là phản xạ chỉ có thể có sau khi cá thể hoặc động vật nào đã được tập luyện, hoặc trải qua, mặc dù sinh ra chưa có còn cá thể nào không trải qua quá trình nêu trên thì không thể có”, nếu phản xạ có điều kiện được lặp đi lặp lại sau một thời gian sẽ hình thành một hoạt động phản xạ có thể nói tương đương hình thành kỹ năng” [1, Tr 20] Bên cạnh đó, ông cũng chỉ ra rằng Phản xạ này chỉ duy trì khi và chỉ khi hoạt động trên được duy trì thông qua luyện tập, có trải nghiệm hoặc trải qua nó một cách thành thạo nhưng chưa đạt tới mức thành thạo kỹ xảo nhất, nghiên cứu 2 Luan van không chỉ khẳng định tính vận động liên tục mà còn khẳng định sự ghi nhớ của bộ não phản ứng với môi trường bằng cách biểu hiện ra ngoài thông qua những vận động này. Theo hướng của Tâm lý học có Lý thuyết Hoạt động có Sergei Rubinstein và Alexei Leont'ev tiên phong vào những năm 1930. Lý thuyết này đặt và xem xét toàn bộ một Hệ thống cụ thể bao gồm đối tượng (hoặc khách quan), chủ thể, hiện vật trung gian (công cụ), quy tắc, cộng đồng và phân công lao động [19] Điểm mạnh nhất của lý thuyết này nó thu hẹp cách giải thích giữa đối tượng là cá nhân và xã hội bằng các hoạt động trung gian, cụ thể hơn là con người làm trung gian thực hiện điều tiết và kiểm ra sự trao đổi của vật chát như hiện vật làm trung gian và đối tượng trung gian và tự nhiên. Lý thuyết trên cũng giải trình về môi trường, lịch sử của con người, văn hóa, vai trò của hiện vật, động lực và sự phức tạp của hoạt động thực tế.
Theo lý thuyết trên, giải trình Kỹ năng là “Sự vận động của con người một cách xuyên suốt trong quá trình sinh tồn đến phát triển xã hội thông qua sự vận dụng các nguồn tài nguyên một cách sáng tạo”, như tạo ra đối tượng trung gian, đối tượng đó ở đây là hiện vật trung gian như công cụ, bao gồm tạo ra và sử dụng vật thể (như rìu, cuốc, giấy viết, đồ đồng, máy tính, …) cho đến phi vật thể (như chữ viết, tiếng nói, âm nhạc, hội họa, …). Khi phải vận hành một loạt các công cụ trên nó hình thành kỹ năng sử dụng và kỹ năng bộc lộ phi vật thể một cách linh hoạt hơn như sử dụng thành thạo máy tính và thành thạo nói ngôn ngữ từ đó là nguồn cơn giải trình cho hoạt động của một con người cho tới cộng đồng và xã hội. Lý thuyết này cũng khẳng định sáng tạo bắt nguồn từ bộ não của con người khi tiếp cận thế giới quan, điều này cực kì tương đồng với giải thích về vận động trong triết học Mác – Lênin. Tổng hợp tất cả những nguồn khái niệm và định nghĩa trên, nhóm đưa ra kết luận sau: “Kỹ năng là khả năng của con người nhằm thực hiện các hoạt động sao cho phù hợp với những mục tiêu, điều kiện được đặt ra một cách có kỹ thuật 3 Luan van hoặc chuyên biệt và giải quyết các vấn đề có trong đời sống”.
Kỹ năng được coi là giai đoạn trung gian giữa việc thực hiện hành động dựa trên cơ sở của tri thức và sự vận dụng đúng những tri thức tương đương trong quá trình hoàn thành các hoạt động cụ thể, nhưng chưa đạt tới hoặc đạt tới một mức độ kỹ xảo nhất định. Kỹ năng nhất là kỹ năng công việc, đó là lý do hình thành hệ thống đào tạo nghề nghiệp hiện có ở bất kỳ quốc gia nào. Như vậy, đa số kỹ năng mà chúng ta có được và hữu ích với cuộc sống của chúng ta là xuất phát từ việc chúng ta được đào tạo. Và như thế, nền tảng kỹ năng của chúng ta trong cuộc sống là 98% do được đào tạo và tự rèn luyện kỹ năng và chỉ 2% trong số đó xuất phát từ bản thân mỗi chúng ta.
Kỹ năng có 2 loại bao gồm: Kỹ năng cứng hay Kỹ năng chuyên môn như kiến thức, học vấn, bằng cấp, chứng chỉ,. và Kỹ năng mềm là Kỹ năng tương tác xã hội biểu hiện bởi Trí tuệ cảm xúc và Kỹ năng sống. Kỹ năng mềm Khác với kỹ năng cứng thì kỹ năng mềm là một khái niệm mới xuất hiện, có thể nói là khá gần vì khác với kỹ năng cứng đây là một từ trừu tượng hóa chỉ có một số định nghĩa hoặc tài liệu nêu ra chỉ tương đối và chưa chính xác tuyệt đối, nhưng đổi lại đã có một một lượng lớn nghiên cứu đã làm tiền đề cho phát triển khái niệm này, một số khác đã cho ra những hướng dẫn dạy học cụ thể tương đồng với kỹ năng mềm như kỹ năng sống hoặc tâm lý học. Ngày nay, trình độ học vấn và bằng cấp chưa đủ để quyết định trong việc tuyển dụng lao động của nhiều doanh nghiệp và người sử dụng lao động.
Họ còn căn cứ vào yếu tố cá nhân như sự nhạy bén khi xử lý công việc và giao tiếp của mỗi người lao động., các yếu tố này được người ta gọi là “Kỹ năng mềm”. Kỹ năng mềm là công cụ bổ trợ cho kỹ năng cứng chiếm phần trăm lớn hơn nhiều do có sự đa dạng giữa các cá thể trong mỗi cá thể lại có tâm lý tính cách khác nhau và là độc nhất. Kỹ năng mềm chỉ là một tên gọi trong nhiều các tên gọi khác nhau như: kỹ 4 Luan van năng cá nhân, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phi kỹ thuật, kỹ năng thiết yếu, kỹ năng chuyển đổi,. thậm chí là tương đồng vì cơ bản chúng đều nhắm tới tâm lý của con người khi tương tác với thế giới quan và quần thể, nếu kỹ năng mềm thực sự nhắm tới những điều trên thì nó phải chiếm tới 90% trong cuộc sống của con người và xuất hiện liên tục đến 50% trong mọi loại tài liệu và chỉ có gần 1/2 trong số đó được nhắc tới trong một tài liệu nhất định, ngoại lệ thì có các sách self-help thì chiếm hơn 80%.
Như vậy, phải khẳng định mặc dù không được định nghĩa rõ ràng nhưng lại có một tỉ lệ lớn liên quan đến thuật ngữ “Kỹ năng mềm” và các kỹ năng thực sự trong đó. Thuật ngữ “Kỹ năng mềm” lần đầu tiên được tạo ra bởi Quân đội Hoa Kỳ vào cuối những năm 1960. Chính xác hơn là năm 1972, thuật ngữ "kỹ năng mềm" được sử dụng chính thức. Theo một tiếp cận mà đã đặt nền móng cho kỹ năng mềm là đặt ra thuật ngữ “Trí tuệ cảm xúc” của Peter Salovey và John D.