Khóa luận: Xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và các biện pháp xử lý

Khóa luận tốt nghiệp luật học phân tích thực trạng hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu tại Việt Nam và đề xuất các biện pháp xử lý hiệu quả.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

122
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa và dịch vụ của các tổ chức hoặc cá nhân khác nhau. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập dựa trên quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc sự công nhận nhãn hiệu nổi tiếng. Trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển, nhãn hiệu đóng vai trò là tài sản vô hình có giá trị thương mại to lớn. Tuy nhiên, hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu diễn ra ngày càng tinh vi và phức tạp. Hành vi vi phạm này xâm hại trực tiếp đến quyền độc quyền khai thác của chủ sở hữu hợp pháp. Khóa luận tốt nghiệp luật học về đề tài này tập trung làm rõ cơ sở lý luận và nền tảng pháp lý điều chỉnh các quan hệ sở hữu công nghiệp. Nghiên cứu xác định rõ bản chất pháp lý của đối tượng bảo hộ, phạm vi quyền tài sản và quyền nhân thân gắn liền. Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định rõ các tiêu chí nhận diện hành vi vi phạm. Việc nghiên cứu thấu đáo khung pháp lý giúp hệ thống hóa các quy định hiện hành, tạo nền tảng vững chắc để phân tích thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp xử lý hiệu quả.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của quyền đối với nhãn hiệu

Quyền đối với nhãn hiệu là quyền sở hữu công nghiệp của tổ chức, cá nhân đối với nhãn hiệu do mình sáng tạo hoặc sở hữu hợp pháp. Quyền này bao gồm quyền sử dụng, quyền định đoạt và quyền ngăn cấm người khác sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn. Đặc điểm nổi bật của quyền nhãn hiệu là tính lãnh thổ và tính thời hạn bảo hộ. Quyền này chỉ phát sinh hiệu lực pháp lý trong phạm vi quốc gia đăng ký, trừ trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng được thừa nhận theo các điều ước quốc tế. Quyền nhãn hiệu mang bản chất tài sản độc quyền. Chủ văn bằng có toàn quyền khai thác giá trị kinh tế và yêu cầu pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp phát sinh.

1.2. Căn cứ pháp lý xác định hành vi vi phạm nhãn hiệu

Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu được quy định cụ thể tại Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành. Việc xác định vi phạm căn cứ vào bốn yếu tố cấu thành cơ bản. Thứ nhất, đối tượng bị xem xét phải thuộc phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu. Thứ hai, có yếu tố xâm phạm trong sản phẩm hoặc dịch vụ thực tế. Thứ ba, người thực hiện hành vi không phải là chủ sở hữu hoặc người được chuyển giao quyền sử dụng hợp pháp. Thứ tư, hành vi được thực hiện tại lãnh thổ Việt Nam. Sự kết hợp của các yếu tố này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các cơ quan tài phán đánh giá tính chất trái pháp luật của hành vi.

II. Thực trạng hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Thực tiễn thương mại tại Việt Nam ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng của các tranh chấp và hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu. Các phương thức vi phạm ngày càng đa dạng, từ sản xuất hàng giả mạo nhãn hiệu truyền thống đến các hành vi tinh vi trên không gian mạng. Môi trường thương mại điện tử và mạng xã hội trở thành mảnh đất màu mỡ cho hoạt động phân phối hàng hóa vi phạm. Thủ đoạn phổ biến là sao chép cấu trúc nhãn hiệu, sử dụng tên miền trùng với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc thay đổi nhỏ về phát âm và hình ảnh để đánh lừa người tiêu dùng. Ngoài ra, việc xác định yếu tố tương tự gây nhầm lẫn còn gặp nhiều vướng mắc trong thực tế giám định và giải quyết tranh chấp. Khung pháp lý tại Nghị định 65/2023/NĐ-CP và Thông tư 23/2023/TT-BKHCN đã bổ sung nhiều tiêu chí chi tiết nhưng thực tiễn áp dụng vẫn tồn tại độ trễ nhất định. Sự bất cập trong việc chứng minh thiệt hại thực tế và năng lực thực thi của một số cơ quan chức năng cơ sở khiến việc ngăn chặn hành vi xâm phạm chưa đạt hiệu quả tối ưu.

2.1. Các dạng hành vi xâm phạm nhãn hiệu phổ biến hiện nay

Hành vi xâm phạm nhãn hiệu biểu hiện dưới nhiều dạng thức phức tạp trong thực tiễn kinh doanh. Dạng vi phạm điển hình nhất là gắn dấu hiệu trùng hoặc tương tự lên bao bì hàng hóa cùng loại nhằm mục đích trục lợi. Dạng thứ hai là nhập khẩu, vận chuyển và buôn bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu qua biên giới. Dạng thứ ba là sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ làm tên thương mại, tên miền trang web hoặc từ khóa quảng cáo trực tuyến. Ngoài ra, hành vi làm suy yếu khả năng phân biệt hoặc gây tổn hại đến uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng cũng xuất hiện thường xuyên, gây thiệt hại nghiêm trọng cho doanh nghiệp.

2.2. Khó khăn và bất cập trong quá trình nhận diện vi phạm

Quá trình nhận diện hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu đối mặt với nhiều rào cản pháp lý và kỹ thuật. Tiêu chí đánh giá tính tương tự gây nhầm lẫn mang tính định tính cao, phụ thuộc lớn vào quan điểm chủ quan của người có thẩm quyền. Việc đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng theo Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ còn nhiều điểm chưa rõ ràng về số lượng tiêu chí bắt buộc phải đáp ứng. Bên cạnh đó, việc thu thập chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm trên môi trường kỹ thuật số rất khó khăn do dữ liệu điện tử dễ bị thay đổi và xóa bỏ nhanh chóng.

III. Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu

Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đa tầng thông qua các biện pháp xử lý đồng bộ. Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể áp dụng biện pháp tự bảo vệ bằng cách gửi thư cảnh báo, yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi và bồi thường. Khi biện pháp tự bảo vệ không mang lại kết quả, các biện pháp pháp lý chính thức sẽ được kích hoạt gồm biện pháp hành chính, dân sự và hình sự. Biện pháp hành chính thường được ưu tiên lựa chọn do thủ tục nhanh chóng, chi phí thấp và ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm. Cơ quan thanh tra, quản lý thị trường hoặc hải quan có thẩm quyền xử phạt và tịch thu tang vật vi phạm. Trong khi đó, biện pháp dân sự tại Tòa án cho phép chủ thể quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại toàn diện và khôi phục quyền lợi. Đối với các hành vi xâm phạm có quy mô thương mại nghiêm trọng, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ áp dụng biện pháp hình sự để răn đe thích đáng.

3.1. Áp dụng biện pháp hành chính và dân sự trong thực tế

Biện pháp hành chính giữ vai trò chủ đạo trong việc xử lý các vụ việc xâm phạm nhãn hiệu tại Việt Nam. Các cơ quan chức năng có quyền áp dụng hình thức phạt tiền, tịch thu tang vật và đình chỉ hoạt động kinh doanh có thời hạn. Ngược lại, biện pháp dân sự được thực hiện thông qua con đường tố tụng tại Tòa án nhân dân. Biện pháp này mang lại hiệu quả vượt trội trong việc buộc bên vi phạm bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần. Tòa án cũng có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn chứng cứ và tài sản trước khi xét xử.

3.2. Xử lý hình sự và biện pháp kiểm soát biên giới hải quan

Biện pháp hình sự được áp dụng đối với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định tại Bộ luật Hình sự. Chế tài hình sự áp dụng cho cả cá nhân và pháp nhân thương mại khi hành vi vi phạm đạt mức độ cấu thành tội phạm hoặc gây thiệt hại đặc biệt lớn. Bên cạnh đó, biện pháp kiểm soát hải quan tại khu vực biên giới đóng vai trò chốt chặn then chốt. Cơ quan Hải quan có quyền tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu bị nghi ngờ xâm phạm quyền nhãn hiệu nhằm ngăn chặn hàng lậu thâm nhập thị trường.

IV. Hoàn thiện pháp luật xử lý xâm phạm quyền nhãn hiệu

Bảo hộ quyền đối với nhãn hiệu là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh và thực thi các cam kết quốc tế như CPTPP hay EVFTA. Nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp luật học khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện đồng bộ hệ thống quy phạm pháp luật và cơ chế thực thi. Việc nâng cao hiệu quả bảo vệ nhãn hiệu đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tư pháp và cộng đồng doanh nghiệp. Cần tiếp tục cụ thể hóa các tiêu chí xác định hành vi xâm phạm, đặc biệt là cơ chế công nhận nhãn hiệu nổi tiếng và các quy định xử lý vi phạm trong không gian mạng. Doanh nghiệp cần chủ động đăng ký xác lập quyền, xây dựng chiến lược quản trị tài sản trí tuệ và thường xuyên rà soát thị trường để kịp thời phát hiện vi phạm. Khóa luận mang lại giá trị tham khảo học thuật sâu sắc, đồng thời gợi mở các định hướng thực tiễn hữu ích cho công tác xây dựng chính sách và tư vấn pháp lý.

4.1. Kiến nghị hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật

Hệ thống pháp luật cần tiếp tục được sửa đổi nhằm tương thích với các chuẩn mực quốc tế hiện đại. Cần lượng hóa các tiêu chí công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ để giảm bớt sự mơ hồ trong áp dụng. Quy định pháp lý về xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra cần được hướng dẫn cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể quyền khi khởi kiện dân sự. Ngoài ra, việc bổ sung chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi xâm phạm nhãn hiệu trên nền tảng số là điều kiện tiên quyết để bảo vệ thị trường minh bạch.

4.2. Khuyến nghị thực tiễn cho doanh nghiệp và người nghiên cứu

Đối với doanh nghiệp, việc chủ động nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sớm theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên là ưu tiên hàng đầu. Doanh nghiệp cần thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ và chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng để bảo vệ tài sản trí tuệ. Đối với sinh viên và nhà nghiên cứu luật học, đề tài mở ra góc nhìn đa chiều về kỹ năng giải quyết tranh chấp thực tế. Việc kết hợp chặt chẽ giữa phân tích án lệ và lý luận lập pháp giúp nâng cao chất lượng khóa luận tốt nghiệp và kỹ năng hành nghề luật.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và các biện pháp xử lý

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và các biện pháp xử lý. Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về xác định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và các biện pháp xử lý Chương 3: Thực tiễn xác định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, áp dụng biện pháp xử lý và kiến nghị. PHAN NỘI DUNG CHUONG 1: KHAI QUAT VE HANH VI XAM PHAM QUYEN DOI VOI NHAN HIEU VA CAC BIEN PHAP XU LY 1. Khái quát về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu 1.

Khái quát về nhãn hiệu và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về định nghia nhãn hiệu, nhưng nhìn chung đều nhân mạnh đến ban chất và chức năng giúp phân biệt giữa các hàng hóa, dịch vụ của các chủ sở hữu của nhãn hiệu Theo khoản 1, điều 15 Hiệp định TRIPS: “Bat kỳ một đấu hiệu, hoặc tổ hợp dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dich vụ của các doanh nghiệp khác đều có thé làm nhăn hiệu hàng hóa. Các dau hiệu đó đặc biệt là các từ, kế cả tên riêng, các chữ cdi, chữ số, các yếu t6 hình hoa và tổ hợp các sắc mau cũng như tổ hợp bat kỳ của các dau hiệu đó phải có khả năng được đăng ky là nhãn hiệu hàng hóa. Trường hợp bản thân các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ung, các thành viên có thé quy dinh rang kha năng duoc đăng ky phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng. Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện dé được đăng ký các dấu hiệu phải là các dẫu hiệu nhìn thấy được ” Không thể không nhắc tới Hiệp định CPTPP khi nói về khái niệm nhãn hiệu, bởi lẽ Hiệp định này đã tao ra một bước tiễn mới về Sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng.

Cu thể, tại điều 18.18 Hiệp định Đối tác Toàn diện và tiễn bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP quy định: “Không bên nào được quy định rằng dấu hiệu phải được nhìn thấy bằng mắt như một điều kiện dé đăng ký, cũng không được từ chối việc đăng ký nhãn hiệu là một âm thanh đơn thuần. Ngoài ra, mỗi Bên phải nỗ lực để cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi hương. Một Bên có thể đòi hỏi một mô tả ngắn gọn và chính xác hoặc đại điện đồ họa của nhãn hiệu, hoặc cả hai nếu có thé.” Theo quy định tại khoản 16 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022 (sau đây gọi là Luật SHTT) : “Nhãn hiệu là đấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Có thé thay, khái niệm về nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam có tính khái quát cao, thé hiện được ban chất và chức năng của nhãn hiệu.

Về cơ bản, pháp luật nhãn hiệu hướng tới mục tiêu bảo hộ sự nhận diện và xác định nguôn gôc sản xuât của sản phẩm trên thị trường. Do đó, yếu tố “dùng dé phân biệt" là yêu cầu co bản nhất đối với bất kỳ dấu hiệu nào đóng vai trò là nhãn hiệu của doanh nghiệp. Nhãn hiệu là chỉ dẫn thương mại thuộc đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, được điều chỉnh bởi pháp luật SHTT, do đó nó mang những đặc điểm sau: (i) Nhãn hiệu không mang hình thái vật thể, tức vô hình, phi vật thể. Tuy vô hình, nhưng nhãn hiệu cũng mang đặc tính xác định được, có thê độc lập tồn tại và được thé hiện trong thế giới khách quan bằng phương tiện vật chất nhất định như: ngôn ngữ, hình vẽ, hoặc cả âm thành.

(1) Ngoài ra, nhãn hiệu có thé dễ đàng được sử dụng độc lập bởi nhiều chủ thể khác nhau trong không gian, thời gian khác nhau. Do nhãn hiệu có thuộc tính phi vật thé, dé lan truyền và không chỉ tồn tai ở một địa điểm nhất định nên khó kiểm soát việc chiếm hữu như các tài sản hữu hình, do đó trên thực tế, đang xảy ra rất nhiều hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, đặt ra thách thức cho pháp luật Việt Nam nhằm bảo vệ tối đa quyền của chủ sở hữu. Về cơ ban, có 5 loại nhãn hiệu được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam, bao gồm: nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu thông thường và nhãn hiệu nỗi tiếng. Bài viết tập trung vào 2 loại nhãn hiệu thông thường và nhãn hiệu nổi tiếng, đồng thời đưa ra các phân tích về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu thông thường và nhãn hiệu nỗi tiếng.

Nhãn hiệu thông thường là dấu hiệu dùng dé phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu nhãn hiệu. Ở một góc độ xem xét, nhãn hiệu thông thường mang tính truyền thống và cơ bản, chứa đựng bản chất và vai trò rõ nét nhất của nhãn hiệu là yếu tố chỉ dẫn khách hàng về nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dich vụ”. Để được bảo hộ là nhãn hiệu, các dấu hiệu này chỉ cần đáp ứng các điều kiện về tính phân biệt và không thuộc trường hợp không được bảo hộ theo quy định của pháp luật. Nhãn hiệu nồi tiếng là nhãn hiệu được biết đến rộng rãi trong bộ phận công chúng liên quan đến một lãnh thổ nhất định thông qua quá trình nhãn hiệu này được sử dụng liên tục trên thị trường.

Khác với nhãn hiệu thông thường thì nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ trên cơ sở thực tiễn sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Nếu nhãn hiệu thông thường chỉ được bảo hộ trong phạm vi hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự gây nhằm lẫn thi nhãn hiệu nôi tiêng được bảo hộ ở mức độ cao hơn. Pham vi bảo hộ nhãn hiệu nôi > Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Trường Đại học Luật Hà Nội, nxb Công an Nhân dân, 2021, tr. 10 tiếng ké cả đối với những hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự, không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nếu gây nhằm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn sốc hàng hóa, dịch vụ hoặc nham lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng.

Nhãn hiệu là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, do đó, dựa theo quy định tại khoản 4 điều 4 luật SHTT Việt Nam về quyên so hữu công nghiệp, có thé nhận định: Quyên sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là quyên của tổ chức, cá nhân đổi với nhãn hiệu do mình sảng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Với những nét đặc thù của nhãn hiệu, có thể xác định một số đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu như sau: Thứ nhất, về điều kiện bảo hộ: Trên thé giới, xu hướng mở rộng các điều kiện của dấu hiệu có khả năng được báo hộ nhãn hiệu ngày càng trở nên phổ biến. Chang han, theo pháp luật của Liên minh Châu Âu, các đấu hiệu trở thành nhãn hiệu có thé bao gồm các từ ngữ cụ thé (bao gồm cả tên riêng); kiêu đáng, chữ cái, chữ số, mau sắc đơn thuần, hình dạng của hàng hóa hoặc bao bì của hàng hóa, âm thanh®; EUTM (Nhãn hiệu liên minh Châu Âu) có thé là nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu chuyên động (Motion mark), nhãn hiệu đa phương tiện (Multimedia mark), và các nhãn hiệu phi truyền thống khác”. Tuy nhiên, Pháp luật SHTT Việt Nam tiếp cận tương đối dè dặt với đối tượng này khi xác định các đặc điểm của dấu hiệu muốn trở thành nhãn hiệu.

Theo đó, điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ gồm: (i) là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ, ké cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tô đó, được thể hiện băng một hoặc nhiều màu sắc hoặc dấu hiệu âm thanh được thể hiện dưới dạng đồ họa; (i) có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác và (iii) không thuộc các trường hợp loại trừ (dâu hiệu không được bảo hộ là nhãn hiệu). Thứ hai, về căn cứ xác lập quyên: Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thông thường được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thú tục đăng ký hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo ĐƯQT mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên. Quyền sở hữu công nghiệp 5 Quy định 2015/2424 (sửa đổi, bể sung) của Liên minh Châu Âu 7TTWTO VCCI - Bảo hô nhãn hiệu ở EU những điều cần biết, truy cập ngày 21/12/2024 11 đối với nhãn hiệu nồi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Thứ ba, về nội dung quyên sở hữu công nghiệp doi với nhãn hiệu: Khác với quyền tác giả chi bảo hộ hình thức ý tưởng sáng tao thì pháp luật SHCN bảo hộ độc quyền nội dung ý tưởng sáng tạo.

Quyền SHCN đối với nhãn hiệu trao cho chủ sở hữu độc quyền trong việc khai thác sử đụng nhãn hiệu và quyền ngăn cắm người khác sử đụng nhãn hiệu. Cả pháp luật Việt NamŠ và Hiệp định TRIPs° đều cùng quy định về các quyền độc quyền và một số giới hạn quyền của chủ thể quyền khi nhãn hiệu được bảo hộ. Thứ tư, quyên sở hiữu công nghiệp đổi với nhãn hiệu mang tính lãnh thổ. Điều này có nghĩa là chủ thể quyền thực hiện các thủ tục xác lập quyền hoặc có căn cứ xác lập quyền ở đâu thì chi được hưởng và thực thi quyền SHCN tại lãnh thé tương ứng theo quy định của pháp luật quốc gia hoặc các ĐƯQT có liên quan.

Thứ năm, về thời han bảo hộ: quyền SHCN đối với nhăn hiệu là quyền được bảo hộ có thời hạn, mỗi quốc gia đều có quy định về thời hạn cụ thé được hưởng độc quyền đối với nhãn hiệu ma minh sở hữu. Trong hầu hết pháp luật của các quốc gia, nhãn hiệu thông thường được bảo hộ trong vòng 10 năm và có thể gia hạn. Thời hạn này được coi là khoảng thời gian hợp lý cho việc khai thác thương mại dé bù đắp chi phí đầu tư cho quá trình sáng tạo và thu lợi nhuận cho chủ sở hữu, phù hợp với sự phát triên nhanh chóng của khoa học kĩ thuật. Khái quát về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ