Chương I: Biển Đông và van dé Biên Đông Chương II: Quá trình xác lập chủ quyển của Việt Nam đối với hai quần đáo Hoàng Sa và Trường Sa Chương HH: Nhận định, đánh giá SVTH: VŨ THỊ HỎNG TÂM Trang 12 LUẬN VAN TOT NGHIỆP 2011 GVHD: PGS.TS NGUYÊN CANH HUE TS LE HUYNH HOA CHUONG I BIEN DONG VA VAN DE BIEN DONG I. BIEN DONG Biển Đông là một trong những biến nửa kín lớn nhất thé giới với điện tích khoảng 1.500 hải lý vuông (tương đương 3. Vùng biên rộng lớn này này trái dài suốt từ bờ biên phía tây của Xingapo ở Đông Nam A đến Đài Loan. Biển Đông bao gồm hơn 200 hòn đảo, được bờ biển của các nước Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan), Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines, Bruney bao bọc xung quanh, Vùng biển có hệ sinh học đa dạng, phong phú cùng các nguồn tài nguyên biển, bao gồm các nguồn nang lượng hydroccabon khổng lồ, các ngư trưởng và 30% ring đá san hô ngằm trên the giới”.
Là tuyển đường ngan nhất từ Thái Bình Dương đến An Độ Dương, biến Đông gan như là một tuyến đường hàng hải cao tốc, đóng vai trò như một cầu nối tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa Trung Quốc và Án Độ, giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á với Trung Đông kể từ thời cổ đại cho đến tận ngày nay, trong đó, co biên Malacca, Lombok và Sunda có tim quan trọng chiến lược đối với khu vực và thé giới. Vùng biển rộng lớn này được bao quanh một trong những khu vực kinh tế năng động nhất thé giới và là khu vực có những quốc gia hàng hai hang dau dang năm giữ ti trong đáng kẻ trên thế giới về năng lực chuyên chở hàng hóa và số lượng hàng hóa lưu thông qua cảng. Dọc theo bờ biển Dong là một số cảng công-ten-nơ lớn nhất và nhộn nhịp nhất trên thé giới như cảng Xingapo, Hồng Kông và Cao Hùng. Hơn một nứa vận tải hàng hai thẻ giới (vẻ khối lượng) được chuyên qua biên Đông mỗi năm, đặc biệt là eo biển Malacca, eo biển đông đúc thứ hai trên thé giới”, trung bình hàng năm "The South China Sea (2009), Retrieved October 23, 209.edu’ses/intro him! * Tạp chi Nghiên cứu quốc tế số 2(77), 6/2009, trang 74 SVTH: VŨ THỊ HỎNG TAM Trang 13 LUAN VAN TOT NGHIỆP 2011 GVHD: PGS.TS NGUYEN CANH HUE TS LE HUYNH HOA có khoảng hơn 41.000 lượt tàu biển qua lại khu vực này”.
Các tàu chử dau di qua eo bién Malacca (nằm ở cudi phía Tây Nam của biên Đông) nhiều gấp ba lần so với lượng tàu qua kênh đào Suez và gap 5 lin so với kênh đào Panama. Một phan vận tai dầu bang đường biển từ Trung Đông va Châu Phi di Nhật Ban, Trung Quốc và Hàn Quốc được đưa qua vùng nay. Tim quan trọng của biển Đông có thẻ nhận thấy rất rõ khi tính đến yếu tô 90% ngoại thương của Trung Quốc là qua đường biển. Với các quốc gia vận tải biển đường dài như Mĩ, Án Độ và Úc, duy trì tự do hàng hái của các tàu vận tải thương mại và tau chiến tại biên Đông là điều đáng quan tâm.
Nếu các đường vận tải hàng hải bị gián đoạn do xung đột vũ trang tại Trường Sa- khu vực biên Đông, hậu quả của các tranh chấp lãnh thổ hoặc tranh chấp quyén tài phán thì lúc đó quyền lợi kính tế của các quốc gia trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, gồm cả Mĩ sẽ bị ảnh hưởng. Ngoài ra đây cũng là một khu vực giàu tài nguyên bao gồm cả nguồn hai sản và tiềm nang dầu khí. Các chuyên gia Trung Quốc ước tính là khu vực này chứa khoảng 225 tí barrels dau khí." Hiện nay cả Bruney, Malaysia và Việt Nam cùng là những quốc gia xuất khẩu dầu khí, còn Trung Quốc từ nim 1993 đã trở thành một trong những quốc gia nhập khẩu dầu khí lớn nhất thế giới, trung bình mỗi ngày Trung Quốc tiêu thụ khoảng 7,85 triệu barrels dau mỏ. Cho tới tháng 5- 2008, Trung Quốc đã trở thành nhà nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Nhật Bản.
Trung Quốc mua 46% lượng dầu nhập khẩu của họ từ Trung Đông, 32% từ Châu Phi và 5% từ Đông A. Trên 80% lượng diu nhập khẩu của Trung Quốc phải di qua eo biển Malacca. Với công nghệ khai thác dầu khí như hiện nay, với những tiềm năng rất lớn vẻ dau khí, trên các thềm lục địa và các vùng biển khác thì biển Đông sẽ thực sự là một khu vực chiến lược quan trọng đối với bắt cử quốc gia nào trong khu vực và đặc biệt quan trọng đối với Trung Quốc, một quốc gia đây tham vọng muon gây ảnh hưởng đến toàn thé giới. Sự hiện điện Ì Tạp chi aghién cứu và phát trên số 481).
“Tap chí nghiên cứu vi phát triển, 96 4(X1). 2010, trang 52 SVTH: VU THỊ HONG TAM Trang 14 LUẬN VẤN TÓT NGHIỆP 2011 GVHD: PGS.TS NGUYÊN CANH HUE TS LẺ HUỲNH HOA cua hai quân Trung Quốc tại khu vực này sẽ de doa đến không chi Phillippines, hay Việt Nam mà còn de doa cả Bruney, Indonesia và Malaysia. Thêm nữa, nêu kiêm soát được khu vực biên chiên lược này, Trung Quốc còn de doa đến cả Nhật Bán. Hoa Kì hay bắt cứ cường quốc nào nêu tau thuyền ho đi qua khu vực này.
Trung Quốc hiện nay vẫn chưa có tàu sân bay nào, nhưng họ đã có ý định xây dựng tàu sân bay trong thời gian tới. Trung Quốc cũng công khai bộc lộ ý định trién khai theo học thuyết Mahan’, với ý định biển Trung Quốc thành một cường quốc biển, từ đó có thé thông trị thé giới. Và trong ý đồ đó, biển Dông có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng, với ý định vươn ra Đại Dương, Trung Quốc đã hình dung ra hai chuỗi đảo chính, trong đó biên Đông nằm trong chuỗi dao số 1 như là cửa ngõ để nước này vươn ra chuỗi đảo số 2, dần dan thống trị Thái Bình Dương và An Độ Duong, từ đó có thẻ thoả man giắc mộng siêu cường. Biển Đông hiện nay đã trở thành “diém nóng” bởi những tranh chấp ngày càng nhiều de dọa đến an ninh khu vực và an ninh thé giới.
Những tranh chấp lãnh thé chồng chéo đang tồn tại & biển Đông bao gdm ba lĩnh vực chính: tranh chấp chủ quyén các đáo; tranh chấp phân định đối với vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục địa; tranh chap giữa tự do hàng hai và việc mở rộng quyén tài phán đổi với vùng lãnh hải, eo biển quốc tế, vùng nước quần đảo và vùng đặc quyền kinh tế, Những tranh chap này có hai dang: Tranh chấp chủ quyền các đáo là vấn đẻ do lịch sử dé lại, và tranh chap phân định vùng đặc quyền kinh tế và vùng thêm lục địa cũng như các van dé hàng hai là do sự diễn giải và triển khai khác nhau các điều khoản liên quan trong Công ước luật biển. * Học thuyết mahan do Alfred Thayer Mahan khơi xưởng vào cuối thé kì XIX, để cao vai trò quan troag cua quyén lực biện, din đến việc nhiều quốc gia dua nhau xây dựng hệ thông hai lực trước the giới chiến | SVTH: VŨ THỊ HỎNG TÂM Trang 15 LUAN VĂN TOT NGHIỆP 2011 GVHD: PGS.TS NGUYEN CANH HUE TS LE HUYNH HOA 'Tranh chap quyén tài phán hiện dang anh hudng tới hòa bình, ôn định và quan hệ chính trị giữa các nước, anh hướng tới sự phát trién kinh tế và khai thác các nguôn tài nguyên biên trong khu vực, Một số khu vực biển trên thẻ giới tiém tang nguy cơ bùng phát xung đột giữa các quốc gia theo đuôi lợi ích hàng hai còn lớn hơn nguy cơ ở biên Đông nhưng vùng biển này ngày càng thu hút sự chú ý mạnh mẽ cua quốc tế boi khu vực này có một vị trí chiến lược quan trọng vẻ quân sự, chính trị va sở hữu một nguòn năng lượng hóa thạch doi dao nên đã trở thành nơi tranh chấp dồn dập của các quốc gia. VAN DE BIEN ĐÔNG Tranh chap trên biển Đông đã anh hưởng đến một loạt các quan hệ song phương giữa các quốc gia trong khu vực và cũng gây căng thang cho moi quan hệ giữa Cộng hòa nhân dan Trung Hoa (Trung Quốc) đối với khối ASEAN. Hiện nay, ngoài quân đảo Hoàng Sa (Paracel Archipelago) đang là đồi tượng tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc, thi quan dao Trường Sa (Spratly Archipelago) cùng là đổi tượng tranh chấp của Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Malaysia và Philippines.
Các tranh chấp này bị chỉ phối rất nhiều bởi các yếu tế kinh tế, luật pháp, ngoại giao, chiến lược và các lợi ích địa - chính trị khác nhau cùng đan xen. Dau hiệu đầu tiên cho thay năm 1968 người ta tim thay khu vực này có tiểm năng trữ lượng dau khí rất lớn, chính điều này góp phần làm tình hình thêm căng thing và thúc đây các nước trong vùng tuyên bé có chú quyền. Một động cơ khác dé tranh chap là trừ lượng khai thác cá. Vào năm 1988, biên Đông chiếm 8% tông số lượng đánh bắt cá và hái san của thé giới, một con số chắc chắn còn có thẻ tăng lên, Trung Quốc đã dự đoán rằng biên Đông chứa lượng cá và các nguồn dầu mo, khí gas tự nhiên có giá trị lên đến một nghìn ty đôla.
Đã có nhiều cuộc xung đột xảy ra giữa Philippines và các nước khác - đặc biệt là Trung Quốc - vẻ những tàu đánh cá nước ngoài trong “Vùng đặc quyền kinh té” của họ. ———— n-ne an ee SVTH: VŨ THỊ HONG TAM Trang 16 LUẬN VĂN TOT NGHIỆP 2011 GVHD: PGS.TS NGUYÊN CANH HUE TS LẺ HUỲNH HOA Cuộc tranh chấp biên Đông diễn ra trong bói cảnh cua Hội nghị công ước luật biển của Liên Hợp Quốc lần thử III (UNCLOS III). Công ước này đã quy định vẻ thâm quyền pháp lý đổi với các vùng biên cua các quốc gia ven biên. Theo đó, các quy chế pháp lý đổi với các vùng biên được Công ước quy định như vùng nội thủy (internal water), vùng nước quần đảo (archipelagic water), lãnh hải (territorial sea), vùng tiếp gidp lãnh hải (contiguos zone), vùng đặc quyẻn kính té (exclusive economic zone), thém lục địa (continental shelves) và biển ca (high seas), Theo quy định tại Công ước này thì lãnh thé của các quốc gia ven biển có thể mở rộng lãnh hai tới 12 hai lý tính từ đường cơ sở, vùng tiếp giáp lãnh hái kéo dai 24 hai lý tính từ đường cơ sở.