CHƯƠNG I QUAN HỆ VIỆT NAM-LIEN XO GIAI DOAN 1950 - 1954 Sau khí chính phủ nước Việt Nam dẫn chủ công hòa tuyên bổ đường lối ngoại giao vào ngày 14 tháng OF năm 1950, ngày 30 tháng O1 năm 1950, bộ ngoại giao , Liên Xô đã gởi điện cho bộ ngoại give Việt Nam. Bức điện nêu rõ: “chinh phủ Liên Xô quyết định kiến lập bang giáo giữa Liên bang Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết và Việt Nam dân chủ cộng hòa, trao đổi đại sứ” Như vậy, quan hệ Việt Nam-Liên X6 đã được mở ra. Đây là sự kiện quan trọng trong lịch sử ngoại gino Việt Nam, ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc kháng chiến chống thực dân để quốc mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành. Tinh từ thời điểm nước Việt Nam Dân chủ Công hòa ra đời (2.1945) cho đến khi mối bang giao Việt-Xô được kiến lập (30.1950) thì khoảng cách thời gian là gần 5 năm.
Tại sua quan hệ giữu hai nước không dược kiến lập sớm hơn? Về phía Việt Nam, ngày sau khí tuyên bổ độc lập nước Việt Nam Dân chủ Công hòa non trẻ phải đương đầu với một tình thế vô cùng khó khăn, phức tap. Sau bao nhiêu năm bị thực dân để quốc thống trị, nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn kiệt quệ, văn hóa lạc hậu, tình hình xã nội chưa ổn định. Trong khi đó, dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, quân đẳng minh lũ lượt kéo vào Việt Nam, Phíu bắc, quân đội Tưởng Giới Thạch chiếm đóng các tinh, thành phố từ biên giới Việt -Trung cho đến vĩ tuyến 16. Theo sau quản Tưởng là bọn phản động Việt Quốc, Việt Cách, Khí vào Việt Nam, quan "Tường có ý đổ tiêu điệt chính quyển cách mạng, giúp bọn Việt gian thành lập chính phú phần động để lấy đó làm tuy sai.
Ở phía nam vĩ tuyến l6, quân Anh đã giúp thực dân Pháp xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp nổ súng ở Sài Gòn, quyết dùng vũ lực buộc nhân dân Việt Nam quay lại kiếp sống nô lệ. Tình thế của Việt Nam hết sức nguy ngập, thù trong giặc ngoài đều tỏ ra hung han, thành quả của cuộc Cách mạng tháng Tám có nguy cơ bị xóa bỏ. Trong hoàn cảnh như vậy, nếu kiến lân được quan hệ ngoại giao với các nước, nhất là cúc nước lớn, Việt Nam sẽ tranh thủ dược sy đồng tình, ủng hộ của quốc tế, nhân dân Việt Nam sé có diểu kiện thuận lợi để vượt qua tình thế nước sôi lửa bỏng.
Chính vì thế, Đăng và chính phủ Việt Nam Dân chủ Công hòa rất coi trong vấn để ngoại giao. Bản chỉ thị “kháng chiến kiến quốc" của Ban chấp hành Trung ương Đẳng ra ngày 25 tháng LÍ năm 1945 xúc định rõ: “Thuật ngoại giao là làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết” ! và “kiên trì hich xi Đẳng công sản Việt Nam (Prick vin kiện Diag? Tập I NXI Sách Ciấu khoa Mic-Lénin, lÌ, 1978. Trang 12 Trang 7 chủ trưởng ngoại giao với các nước trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ.” ' Có thể nói Việt Nam sẩn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao với bất kỳ nước nào trên thế giới theo tinh thần “bình đẳng, tương trợ”. Tuy nhiên, ngoại giao Việt Nam có thành công hay không còn tùy thuộc vào các nước.
Thực tế là phải đến tháng 01 nam 1950, Trung Quốc, Liên Xô và các nước khác mới công nhận Việt Nam. Rõ rang bang giao giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa và các nước được thiết lập sớm hay muộn không hẻ xuất phát từ lập trường củu phía Việt Nam. Còn Liên Xô, cho đến trước năm 1950, khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng chưa phải là nơi thu hút sự chú ý của họ. Trong khoảng thời gian từ 1945 - 1949, Liên Xô một mặt phải tập trung vào nhiệm vụ khôi phục đất nước sau 4 năm bi chiến tranh tan phá khủng khiếp.
Mặt khác, trong chính sách đối ngoại, Liên Xô đặc biệt xem trọng khu vực châu Âu. Vấn để phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu giữa Liên Xô và Mỹ đã làm cho hai nước này mâu thuẫn với nhau gay gat, nhất là việc giải quyết vấn dé Đức. Liên Xô phải đối phó với su chống phá eda Mỹ qua "chủ nghĩa Truman”, “kế hoạch Marshall*,. để duy trì ảnh hưởng của mình tại Đông Âu.
Ở châu A, Liên Xô chú ý đến Trung Quốc, Triều Tiên, là những nơi mà Liên Xô có nhiều quyền lợi và gắn liền với nên an ninh của ho. Còn Đông Nam A lúc này chưa phải là nơi có ảnh hưởng đến lợi ích của Liên Xô. Hơn nữa, theo sự thỏa thuận giữa 3 cường quốc Liên Xô- Anh -Mỹ tụi hội nghị I-an-ta (tháng 2.1945) thì Đông Nam A vẫn là khu vực thuộc phạm vi ảnh hưởng của phương Tây. Những vấn để nêu trên hẳn có liên quan đến việc Liên Xô không xớm công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Cho đến năm 1949, tình hình quốc tế nói chung và Liên Xô nói riêng có những thay đổi khá lớn. Trên bình diện quốc tế, su kiện quan trọng nhất là Dang Cộng Sản Trung Quốc - được Liên Xô hậu thuẫn - đã giành được thắng lợi trong cuộc nội chiến.1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời. Về phía Liên Xô, ho đã dat được nhiều thắng lợi trong cả hai lĩnh vực đối nội và đối ngoại. Trong nước, nên kinh tế đã được phục hồi.
Bên ngoài, Liên Xô đã xúc lập được phạm vi ảnh hưởng ở Đông Âu.1949, Liên Xô và các nước Đông Âu thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV). Đây là câu trả lời của Liên Xô dối với kế hoạch Marshall của Mỹ, Đầu tháng 10, trên lãnh thổ Đông Đức (khu vực đóng quản của Liên XO) nước Công hòa Dan chủ Đức ra đời. Đây cũng là hành k lịch sử Dang công sản Việt Nam (trick van Atén Pring), (ap 1 NXH Sách Gide khoa Mae-Lénin, HỆ, 1978, rung 12 -Trang 8- động đáp trả của Liên Xô đối với việc Mỹ. Anh, Pháp lập nén nước Cộng hòa Liên bung Đức ở khu vực đồng quân của các nước này (Tây Đức).
Có thể nói, vẻ cơ băn, Liên Xô đã giải quyết xong vấn để Châu Âu - vấn để quan trọng nhất đối với họ sau chiến tranh thế giới thứ II. Đến lúc này, Liên Xô mới hướng đến Đông Nam A mà trước hết là Việt Nam Dân chủ Công hòa, nhà nước Din chủ Nhân dân đầu tiên của khu vực.1950, quan hệ Việt-Xô được thiết lập. Tuy muộn màng, nhưng sự kiện này có ý nghĩa rất lớn đối với hai nước, trước hết là Việt Nam. Đối với Việt Nam, trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh, sự nghiệp giải phóng dân tộc chưa hoàn thành thì việc Liên Xô — cũng như các nước dân chủ nhin dân khác - công nhận nước Việt Nam Dân chủ Công hòa là mot thắng lợi lớn vẻ ngoại giao và chính trị.
Nước Việt Nam Dan chủ Công hòa đã có được một vị tri nhất định trên trường quốc tế, được xem là nước độc lập. có chủ quyền chứ không phải là một bộ phận quan trọng trong liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Từ đây, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam có thể tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tể. nhất là Liên Xô.
một cường quốc xã hội chủ nghĩa trên thể giỏi. Về phía Liên Xó, qua việc kiến lập bang giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòau, họ đã thật sự có mật ở Đông Nam A và có thêm một đồng minh xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, từ khi Việt-Xô kiến lập bang giao cho đến khí quan hệ giữa hai nước di đến gin bó trên tinh than hữu nghị, hợp tác, phải mất thêm một khoảng thời gian nữa, dù rằng ngày trong năm 1950, Liên Xô đã bất đấu viện trợ cho Việt Nam. Vào tháng 2 năm 1950, chủ tịch Hồ Chí Minh đã bi mật đến Liên Xô. Người đã gặp Suailin - nhà lãnh đạo của đất nước XôViết - Stalin tỏ ra đồng tình với đường lối củu cách mạng Việt Nam, hứa viện trợ cho Việt Nam “Một trung đoàn pháo cao xạ 37 ly, một số xe vận tải Molotova, một số thuốc quân y.” ' Ở đây, có thể nhận thấy hai điều: thứ nhất, chuyến đi của Hồ chủ tịch đến Liên Xô diễn ra một cách bí mật, không phải là chuyến viếng thăm hữu nghị chính thức.
Thứ hai, trong hoàn cảnh khó khăn của Việt Nam lúc đó, số viện trợ trên không nhiều sv với nhu cầu. Nhưng dù sao những động thái như vậy cũng có tác động tích cực đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Việt Nam đánh giá rất cao vai trò của Liên Xô trong phong trào hòa bình và chống dé quốc trên thể giới. Tháng 2/1951, Đại hội đại biểu lần thứ hai của Đảng cộng sản Động Dương đã họp tại Tuyên Quang ( đổi tên thành Đảng Lao Dong Việt Num).
Báo cáo chính trị của Đại hội đã nhân định thé giới chia làm hai phe: l2 Lite Vain Loti, Năm maési nam ngeui giáo Việt Nam (Í945- P955}. Tap | NXB Công An nhấn dan, H. -Trang 9- dan chủ và phản dân chủ. Phe dân chủ do Liên Xô lãnh daova Việt Nam là một bộ phán của phe này.
Xuất phát từ nhận định như vậy. phía Việt Nam luôn coi trọng việc quan hệ chất chẽ với Liên Xô. Chủ tịch Hỗ Chí Minh, trong bài viết vẻ Liên Xô đăng trên báo nhãn din (07/05/1951), sau khi ca ngợi thành tựu kinh tế Liên Xô đã khẳng định: “ Liên Xô thịnh vượng tức là thành trì cách mạng. thành trì din chủ và hòa bình thế giới càng vững chấc." ' Người lấy những thành công của Liên Xô để cổ vũ nhân dân Việt Nam trong công cuộc kháng chiến kiến quốc.
Thing 4 năm 1952, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoa cử ông Nguyễn Lương Bằng làm đại sứ đầu tiên tại Liên Xô. Còn Liên Xô thì vẫn chưa cử đại sứ đến Việt Nam, có lẽ là do Việt Nam còn chiến tranh. Tháng 11 năm này, nhân dịp kỷ niệm 35 năm cách mạng tháng 10, Hồ chủ tịch đã gửi điện mừng đến Stalin và Stalin đã gửi điện cám ơn. Thắng | năm 1953, kỷ niệm ba năm ngày hai nước đặt quan hệ ngoại giao, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gửi điện mừng cho Stalin.
Bức điện có đoạn: “ Với sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Liên Xô vi đại, nhân đân Việt Nam nhất định thành công trong cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược, giành lại tự do và độc lập. ” Ÿ Mặc dù có những hoạt động tích cực như vậy từ phía Việt Nam, nhưng quan hệ Việt-Xô vẫn còn một khoảng cách.