Khóa luận tốt nghiệp lịch sử tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển văn hóa xã hội của người stiêng ở tỉnh bình phước

Khóa luận tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển văn hóa xã hội của người Stiêng tại tỉnh Bình Phước, khám phá giá trị văn hóa độc đáo.

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2010

133
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA CHÍ TỈNH BÌNH PHƯỚC

1.1. Lịch sử hình thành tỉnh Bình Phước

1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.3. Những đặc trưng văn hóa của người Stiêng ở Bình Phước

1.3.1. Làng bản, nhà ở

1.3.2. Nghệ thuật công chiêng

1.3.3. Văn hóa gia đình - xã hội

2. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI VÀ GIAO LƯU VĂN HÓA CỦA NGƯỜI STIÊNG Ở BÌNH PHƯỚC

2.1. Thế kỷ trước khi thực dân Pháp xâm lược

2.2. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

2.2.1. Chính sách của thực dân Pháp đối với người Stiêng

2.2.2. Phong trào đấu tranh chống Pháp của người Stiêng

2.2.3. Tác động chính sách của đế quốc Mỹ đối với người Stiêng và phong trào đấu tranh

2.3. Sự giao lưu văn hóa giữa người Stiêng với các dân tộc khác trong tỉnh từ sau 1975 đến nay

2.4. Chính sách của tỉnh Bình Phước đối với người Stiêng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lịch sử hình thành văn hóa người Stiêng ở Bình Phước

Tỉnh Bình Phước là nơi cư trú của nhiều dân tộc, trong đó có người Stiêng. Lịch sử hình thành và phát triển văn hóa của người Stiêng gắn liền với quá trình lịch sử của vùng đất này. Người Stiêng đã có mặt tại đây từ rất sớm, chịu nhiều tác động từ các cuộc chiến tranh và chính sách của thực dân. Việc tìm hiểu văn hóa người Stiêng không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử mà còn góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh Bình Phước

Bình Phước nằm ở miền Đông Nam Bộ, có địa hình đa dạng với nhiều đồi núi và sông suối. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển văn hóa của người Stiêng, với các phong tục tập quán đặc sắc.

1.2. Những ghi chép lịch sử về người Stiêng

Các tài liệu lịch sử cho thấy người Stiêng đã được biết đến từ rất sớm qua các ghi chép trong thư tịch cổ. Những thông tin này giúp khẳng định vị trí của người Stiêng trong lịch sử phát triển văn hóa Việt Nam.

II. Những thách thức trong việc bảo tồn văn hóa người Stiêng

Người Stiêng hiện đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống. Sự phát triển kinh tế và đô thị hóa đã ảnh hưởng đến lối sống và phong tục tập quán của họ. Việc nghiên cứu và tìm hiểu những thách thức này là cần thiết để có những giải pháp phù hợp.

2.1. Tác động của đô thị hóa đến văn hóa người Stiêng

Đô thị hóa đã làm thay đổi nhiều mặt trong đời sống của người Stiêng, từ sinh hoạt hàng ngày đến các phong tục tập quán. Điều này đòi hỏi cần có những biện pháp bảo tồn hiệu quả.

2.2. Sự biến đổi trong phong tục tập quán

Nhiều phong tục tập quán của người Stiêng đang dần bị mai một do sự giao thoa văn hóa. Việc nghiên cứu và ghi chép lại các phong tục này là rất quan trọng.

III. Phương pháp nghiên cứu văn hóa người Stiêng hiệu quả

Để nghiên cứu văn hóa người Stiêng một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu đa dạng. Việc kết hợp giữa nghiên cứu thực địa và tài liệu lịch sử sẽ giúp có cái nhìn toàn diện hơn về văn hóa của họ.

3.1. Nghiên cứu thực địa và phỏng vấn

Nghiên cứu thực địa giúp thu thập thông tin trực tiếp từ cộng đồng người Stiêng. Phỏng vấn các bậc cao niên sẽ cung cấp nhiều thông tin quý giá về văn hóa và lịch sử của họ.

3.2. Phân tích tài liệu lịch sử

Việc phân tích các tài liệu lịch sử sẽ giúp hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển văn hóa của người Stiêng, từ đó có những nhận định chính xác hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu văn hóa người Stiêng

Nghiên cứu văn hóa người Stiêng không chỉ có giá trị về mặt lý thuyết mà còn có thể ứng dụng vào thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu có thể giúp chính quyền địa phương xây dựng các chính sách phù hợp nhằm bảo tồn văn hóa dân tộc.

4.1. Đề xuất chính sách bảo tồn văn hóa

Các chính sách bảo tồn văn hóa cần được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu, nhằm đảm bảo quyền lợi và sự phát triển bền vững cho người Stiêng.

4.2. Tăng cường giáo dục về văn hóa dân tộc

Giáo dục về văn hóa dân tộc Stiêng trong trường học sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu và trân trọng bản sắc văn hóa của dân tộc mình.

V. Kết luận và tương lai của văn hóa người Stiêng

Việc nghiên cứu văn hóa người Stiêng là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Những nỗ lực bảo tồn văn hóa sẽ góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc và phát triển cộng đồng. Tương lai của văn hóa người Stiêng phụ thuộc vào sự quan tâm và hành động của cả xã hội.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa

Bảo tồn văn hóa không chỉ là trách nhiệm của người Stiêng mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Việc này sẽ giúp duy trì sự đa dạng văn hóa của đất nước.

5.2. Hướng đi cho tương lai

Cần có những chiến lược dài hạn để bảo tồn và phát triển văn hóa người Stiêng, từ đó tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho cộng đồng.

09/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Tổng quan về địa chí tinh Bình Phước. Chương II: Những đặc trưng văn hóa của người Stiêng ở Bình Phước. Chương IIT: Quá trình phát triển văn hóa — xã hội và giao lưu văn hóa của người Stiéng ở Bình Phước. SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Tuyết Trang 15 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Thanh Thanh Chương ï TONG QUAN VE DIA CHÍ TINH BÌNH PHƯỚC.1 Lịch sử hình thành tinh Bình Phước.

Binh Phước, trước đây, vốn 14 một bộ phận cấu thành tỉnh Sông Bé cũ va thuộc miễn núi trung du miễn Đông Nam Bộ nước ta. Nói về miền Đông Nam Bộ trước khi có lưu dân người Việt đến lập nghiệp, Trịnh Hoài Đức đã viết: “Bà Rịa ở đầu biên giới tran Biên Hòa, là đất có danh tiếng, cho nên các phủ phía bắc có câu ngạn ngữ rằng Cơm Nại Rịa, Cá Rí Rang (tức cơm ngon thì ở Đồng Nai, Bà Rịa, cá ngon thì ở Phan Ri, Phan Rang), là lay xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu mà bao gồm cả Bến Nghé, Sài Gòn, Mỹ Tho, Long Hè vậy. Dat (Bà Rịa) này dựng lưng vao nủi, quay mặt ra biển, rừng rậm, tre cao.vẫn là địa hạt xung yếu thứ nhất. Lại có nhiều quan ải hiểm trở, có dấu vết thành trì cổ xưa giống như quốc đô của vua chúa thời cổ.

Cứu xét thêm thì Bà Rịa là đắt cũ của Lục Chân Lap”. Tân Đường thư cũng chép rằng: “nước Bà Lợi ở ngay phía Đông Nam Chiêm Thành, từ Giao Châu (tức Việt Nam đưới thời Bắc thuộc) vượt biển trải qua các nước Xích Thổ. Ban Đan thì tới. Đất đai là châu thổ lớn, có nhiều ngựa nên cũng gọi là nước Mã LỄ.

Phong tục của họ là xỏ tai đeo khoen, dùng một tấm vải thô quấn ngang lưng. Phía Nam (Bà Lợi) là nước Thủ Nại. Sau niên hiệu Vĩnh Huy đời Đường (650 - 655) thì bị Chân Lạp thôn tinh. Từ những cứ liệu trên, Trịnh Hoài Đức chú thích và nghi vấn thêm: “Tra theo sách chánh văn thi chữ Lợi âm Lục địa thiết (đọc Lia, ta đọc Rịa) nên nghỉ là Bà Rịa nay (thế kỷ 18) tức nước Bà Lợi xưa kia chăng? Còn Thủ Nai với Đồng Nai, thanh âm không sai nhau lắm, hoặc giả la đất Sai Gòn ngày nay vayTM.

¡3 Dẫn theo Nguyễn Dinh Dau, “Địa lý lịch sử Sông Bé”, trong Dia chi tinh Sóng Bé. Nxb Tổng hợp Sông Bé. SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Tuyết Trang I6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Thanh Thanh “Đất Sài Gòn ngảy nay" đây đương thời hiểu theo nghĩa rộng bao gồm phan lớn miễn Đông Nam Bộ, trong đó có địa bản Sông Bé bây giờ `. Va tác giả đưa ra nhận định “có kha nhiều lý do để phỏng đoán là xưa kia trên đất nước Thù Nai đã có dân tộc Xtiêng.

trên đất nước Bà Rịa (tức Bà Lợi) đã có dân tộc Ma sinh sống". Như vậy, qua việc xác định địa bản cư trú của người Stiéng va người Mạ trước khi người Việt đến khẳn hoang lập ấp, chúng ta có thể biết sơ nét về vị trí vùng đất Đông Nam Bộ. trong đó có tinh Bình Phước nay vào trước thé ky XVII. Dia bàn Sông Bé nói chung, Binh Phước nói riêng buổi đầu, thuộc đính Trấn Biên rỗi trấn Biên Hòa.

Trong “Gia Định thành thông chí”, Trịnh Hoài Đức cũng đã ghi nhận sự hình thành vùng đất này: “Mùa xuân năm Mậu Dan, đời vua Hiển Tông Hiển Minh hoàng dé sai thông suất chưởng cơ Lê Thanh Hau Nguyễn Hữu Cảnh sang kinh lược Cao Miên, lấy Nông Nai làm Gia Định phi, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn lam huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trin. Mỗi đinh đặt chức lưu thủ, cai bộ và ky lục để quản trị. Khi ấy, đất đai mở rộng cả ngàn dặm, dân số nhiều hơn bốn vạn hộ, lại chiêu mộ những lưu dân từ BO Chánh trở về nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường ấp xã thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm chiếm ruộng đất, chuẩn bị thuế đỉnh điển và lập bộ tịch đỉnh điền Ý.Ghi chép trên cho thấy quá trình mở rộng vùng đất phía Nam của lưu dân người Việt. Và khi ấy, "phủ Gia Định bao trùm lên khắp miền Đông Nam Bộ.

Sông Sài Gòn làm ranh giới giữa hai huyện: tả ngạn đến biển đông là huyện Phước Long, hữu ngạn đến sông Tién là huyện Tân Bình””. Là một bộ phận của tinh Sông Bé cũ, chúng ta có thể xác định địa bản tỉnh Bình Phước ngảy nay thuộc dinh Trấn Biên, tổng Bình An, huyện Phước Long. *Ý Nguyễn Dinh Đảu, “Dia lý lịch sử Sông Bé”, trong Dia chí tinh Sóng 8é, Nxb Tổng hợp Sông Bé, 1991. ® Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chỉ, ban dich của Tu trai Nguyễn Tao, Sai Gòn, tập Trung, 1972.

Nguyễn Dinh Dau, "Địa lý lịch sử Sông Bé”. SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Tuyết Trang 17 Khóa luận tốt nghiệp GVHD; Tran Thị Thanh Thanh Năm 1779, địa giới Gia Dinh được chia thành 3 định: Tran Biên. Phiên Tran Long Hé, đạo Trường Tồn va tran Hà Tiên. Dinh Tran Biên chi có một huyện là Phước Long gồm 4 tổng là Tân Chỉnh.

Long Thanh va Phước An. cải phủ Gia Dinh làm tran Gia Dinh, đại bộ phận cách ranh hanh chính như cũ chỉ đôi tên: Dinh Phiên Tran ra tran Phiên An Dinh Tran Biên - Tran Biên Hòa Dinh Tran Định - Tran Định Tường Dinh Vinh Tran - trắn Vĩnh Thanh” Như vậy, dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, tinh Bình Phước trực thuộc trấn Biên Hòa. Đến giữa thế kỷ XIX, sau khi đặt ách đô hộ tại Lục tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực lớn: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát- Xắc. Bình Phước thuộc khu vực Sài Gòn, trong đó vùng đất phía Đông thuộc tiểu khu Biên Hòa, vùng đất phía Tây Nam và phía Nam thuộc tiểu khu Thủ Dầu Một.

Năm 1889, thực dân Pháp đổi các tiểu khu thành các tỉnh, Bình Phước thuộc địa phận tỉnh Biên Hòa va tinh Thủ Dầu Một. Từ đó cho đến hết thời Pháp thuộc, bộ máy hành chính cơ bản không thay đổi. Từ năm 1956 đến năm 1959, trên địa bản cũ bao gồm 3 tỉnh là Bình Dương, Binh Long và Phước Long (2 tinh Bình Long, Phước Long thuộc Binh Phước ngày nay) Từ năm 1959 đến năm 1965, chính quyển Sài Gòn thành lập 4 tinh là Binh Dương, Binh Long, Phước Long và Phước Thành. Sau đó tỉnh Phước Thanh bị giải thé vao ngày 06/07/1965.

h Nguyễn Đình Dau, “Địa lý lịch sử tính Sông Bé”, Sđd. SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Tuyết Trang 18 Khoa luận tốt nghiệp GVHD: Tran Thị Thanh Thanh Trải qua hàng chục năm chiến tranh, vùng đất Binh Phước ngày nay bị chia cắt sát nhập nhiều lân tủy theo nhu cau cai trị của thực dân dé quốc trong từng thời kỷ lịch sử. Đến ngày 30/01/1971, Trung ương cục miễn Nam quyết định thành lập phan khu Binh Phước. Cuối nam 1972, phân khu Bình Phước giải thẻ, tinh Binh Phước chính thức thảnh lập.

Ngày 2/7/1976, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam quyết định thành lập tinh Sông Bé bao gồm tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Phước, và 3 xã thuộc huyện Thủ Đức”, chia thành 7 huyện thị: Binh Long, Phước Long, Đồng Phú, Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An, Thị xã Thú Dầu Một. Ngày 1/1/1997, tinh Binh Phước được tải lập, gồm 5 huyện phia bắc tinh Sông Bé, gồm: Đồng Phú, Lộc Ninh, Phước Long. Binh Long, Bi Đăng, tinh lị là Đồng Xoài °. Hiện nay, tinh Bình Phước bao gồm 3 thị xã (thị xã Đồng Xoải, thị xã Bình Long, thị xã Phước Long) và 7 huyện (Bù Đăng, Bù Đốp, Bù Gia Mập, Chơn Thanh, Đồng Phú, Hớn Quản, Lộc Ninh) L2.

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên. Binh Phước là một trong 6 tinh miền Đông Nam Bộ. Phía bắc tiếp giáp tinh Kompong Cham và tỉnh Kratie (Campuchia), phía Nam giáp các tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, Phía Đông giáp các tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh (Việt Nam) và tỉnh Kompong Cham (Campuchia) Tỉnh Bình Phước nằm về phía tây và tây bắc miền Đông Nam Bộ, có tọa độ: Bắc: 12°17'B (xã Ba Gia Map — huyện Phước Long) Nam: 11°20°B (Xã Tân Hòa - huyện Dang Phú) Đông: 107225'Đ (xã Đồng Nai — huyện Bi Dang) * Ban chấp hanh Đảng Bộ tinh Binh Phước, Lich sử Đảng Bỏ tinh Bình Phước sơ thảo (1930 -1975). Ban thường vụ tinh dy, 2000, tr 9.

'? Ban chap hành Dang Bộ tinh Bình Phước. Lich sử Đảng Bộ tinh Bình Phước sơ thao (1930 -1975), sđi_8-9. SVTH: Nguyên Thị Mỹ Tuyết T H U VI ỆN © Trường Đại-Học Su-Fham | Trang 19 TP. HÕ-CHI-MINH Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Thanh Thanh Tây: 106"25°D (xã Lộc Tan - huyện Lộc Ninh)'' Tổng diện tích hiện nay 1a 6.4 km’, dân số có 874.961 người (tổng điều tra dân số ngay 01/04/2009)" Điều kiện tự nhiên.

Địa hình: Tinh Bình Phước nằm ở phía bắc và tây bắc miễn Đông Nam Bộ. Toàn bộ địa hình tỉnh nam trên sườn đốc phía tây nam của cực nam day Trường Sơn được bao phủ bởi những dãy đôi dat đỏ ba-zan nỏi tiếp nhau thành vòng cung kéo đài từ Bu Gia Map xuống tận Dau Tiếng ngang qua Phước Long, Lộc Ninh và Bình Long. Địa hình Bình Phước bao gồm: - Cao nguyên và đôi núi thấp năm ở đông bắc huyện Phước Long, bắc huyện Bu Đăng là nơi tiếp giáp với cao nguyên Mnông. Địa hình này chủ yếu là những day đồi đất đỏ ba-zan, gồm nhiều chỏm cao trên 300m.

- Địa hình đổi lượn sóng kế tiếp vùng đồng bằng Bù Gia Mập và Bù Đăng, nằm ở tây nam Phước Long, Lộc Ninh và Bình Long. Đây là khu vực đất đai màu mỡ nhất của tinh Bình Phước cũng như Đông Nam Bộ với những dãy đồi đất đỏ với các chỏm thường tròn và bằng, có độ cao không quá 300m, sườn có độ dốc thấp. - Vùng tiếp giáp của những dãy đồi núi đất đỏ ba-zan va vùng đồng bằng phù sa cổ đất xám Tây Ninh, Bình Dương. Vùng đệm này nằm ở nam Bình Long và Đồng Phú, có bậc thềm cao trên 50m”.

Nhìn chung, địa hình phổ biến ở Bình Phước là địa hình đổi lượn sóng, đất đai màu mỡ, có thảm thực vật và quân thể động vật đa dạng, phong phú. !! Nguyễn Trung Đỗ, Di tích đắp đất hình tròn Bình Phước. Luận Án Tiến sĩ LS, Viện KHXH Tp. '? Chi cục Thống kê tinh Binh Phước, Tổng điểu tra dan số năm 2009, tài liệu lưu hành nộ bộ.

'” Nguyễn Trung Đỗ, Di tích đắp đất hình tron Binh Phước, Sđd.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này khám phá những khía cạnh quan trọng về văn hóa và sinh kế của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù không có tiêu đề cụ thể, nội dung của tài liệu hứa hẹn sẽ cung cấp cho độc giả cái nhìn sâu sắc về sự chuyển đổi sinh kế, tri thức bản địa và các giá trị văn hóa độc đáo của các nhóm dân tộc như người Stiêng, người Cơ Tu và người Tày.

Độc giả sẽ được tìm hiểu về Sự chuyển đổi sinh kế của người Stiêng giai đoạn 2009-2019 qua nghiên cứu tại xã Thống Nhất, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, giúp họ hiểu rõ hơn về những thay đổi trong cuộc sống và phương thức sinh hoạt của cộng đồng này. Bên cạnh đó, tài liệu cũng đề cập đến tri thức bản địa của đồng bào Stiêng về sử dụng và phát triển thực vật ăn được tại huyện Bù Đăng, mang đến cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa văn hóa và môi trường tự nhiên.

Ngoài ra, độc giả có thể mở rộng kiến thức của mình qua việc khám phá thêm về văn hóa ứng xử với rừng của người Cơ Ho Chil tại huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, một chủ đề liên quan đến cách mà các cộng đồng dân tộc tương tác với môi trường xung quanh.

Hãy nhấp vào các liên kết dưới đây để tìm hiểu thêm về những chủ đề thú vị này:

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về văn hóa và sinh kế của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam.