Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Lịch sử hình thành và phát triển văn hóa – xã hội ở người Stiêng tỉnh Bình Phước" do sinh viên Nguyễn Thị Mỹ Tuyết thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô Trần Thị Thanh Thanh tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành tháng 4/2010).

Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định xuất phát từ vị trí địa bàn tỉnh Bình Phước thuộc miền Đông Nam Bộ – nơi cư trú của hơn 40 dân tộc anh em. Trong đó, người Stiêng là cư dân bản địa lâu đời và là dân tộc thiểu số có dân số đông nhất tại địa phương, chiếm vị trí quan trọng trong lịch sử xây dựng và bảo vệ vùng đất này. Dưới tác động của các biến cố lịch sử, chiến tranh và quá trình phát triển kinh tế – xã hội hiện đại, đời sống của cộng đồng người Stiêng đã và đang diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc.

Tác giả chỉ ra rằng các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận người Stiêng dưới góc độ dân tộc học miêu tả thuần túy, hoặc đặt trong phạm vi hành chính của tỉnh Sông Bé cũ trước khi chia tách năm 1997, dẫn đến nhiều khoảng trống tư liệu lịch sử và thiếu tính hệ thống theo địa bàn hành chính hiện nay. Việc nghiên cứu đề tài nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Phục dựng bức tranh toàn cảnh về quá trình hình thành, phát triển lịch sử, văn hóa và xã hội của tộc người Stiêng tại Bình Phước qua các thời kỳ.
  2. Làm rõ những đặc trưng văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, cơ cấu tổ chức xã hội truyền thống và sự biến đổi của các yếu tố này trong đời sống đương đại.
  3. Đánh giá vai trò, đóng góp của người Stiêng trong tiến trình lịch sử địa phương và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
  4. Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác hoạch định chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước tại địa phương, đồng thời bổ sung nguồn tư liệu cho việc giảng dạy lịch sử địa phương tại các trường phổ thông.
  • Đối tượng nghiên cứu: Lịch sử hình thành, quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và các mối quan hệ tộc người của cộng đồng người Stiêng.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bình Phước (gồm các huyện, thị xã có người Stiêng sinh sống như Bù Đăng, Bù Đốp, Bù Gia Mập, Chơn Thành, Đồng Phú, Hớn Quản, Lộc Ninh, thị xã Bình Long, Phước Long, Đồng Xoài).
  • Phạm vi thời gian: Từ nguồn gốc lịch sử thời tiền – sơ sử đến thời điểm nghiên cứu (năm 2010), trọng tâm là giai đoạn từ thế kỷ XVII–XVIII đến sau năm 1975.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở tư liệu và lịch sử nghiên cứu, khóa luận kế thừa hệ thống tư liệu đa dạng từ nhiều giai đoạn:

  • Thư tịch cổ chữ Hán: Ghi chép của Quốc sử quán triều Nguyễn (Đại Nam nhất thống chí, bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ năm 1833 được dẫn lại trong Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú có ghi địa danh "Xương Tỉnh thành"), Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức.
  • Tư liệu của các học giả phương Tây thời kỳ thuộc địa và chiến tranh: Bản đồ An Nam Đại Quốc họa đồ của Taberd (1838), tác phẩm Dictionnaire stieng và bài viết Les Stieng de Brolam của H. Azémar (1887), khảo cứu Les Jungles Moi (Rừng Người Thượng) của Henri Maitre (1909/1912), Coutumier Stieng của T. Gerber (1951), tập sách Minority Groups in the Republic of Vietnam của các tác giả Mỹ (1966).
  • Các công trình khoa học trong nước sau năm 1975: Luận án và bài viết của TS. Phan An (Hệ thống xã hội tộc người Stiêng ở Việt Nam: từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975), GS. Mạc Đường (Vấn đề dân tộc ở Sông Bé, 1985), PGS.TS. Ngô Đức Thịnh (Luật tục các dân tộc Nam Tây Nguyên, Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên), Diệp Đình Hoa (Dân tộc Xtiêng, 1984), Vũ Hồng Thịnh (Nghệ thuật cồng chiêng của dân tộc Stiêng tỉnh Sông Bé), nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, Đinh Văn Liên, Ngô Văn Lý.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu, mô tả, trình bày các sự kiện, tiến trình văn hóa – xã hội của người Stiêng theo trình tự thời gian khách quan.
  • Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp, khái quát bản chất của các hiện tượng lịch sử và rút ra các quy luật biến đổi văn hóa – xã hội.
  • Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức của dân tộc học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, địa lý học lịch sử để xác minh nguồn gốc và phân loại đặc trưng tộc người.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Tác giả tiến hành khảo sát thực địa, phỏng vấn nhân chứng, ghi chép tư liệu tại các sóc: sóc Lô Ô (xã An Khương), sóc Phim Lu, sóc Xa Cô, sóc Bù Dinh, sóc Đam (xã Thanh An, huyện Hớn Quản/Bình Long, tỉnh Bình Phước).

Nguồn số liệu thực tế được khai thác trực tiếp từ Chi cục Thống kê tỉnh Bình Phước (Tổng điều tra dân số ngày 01/04/2009), Ban Dân tộc tỉnh, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, và Bảo tàng tỉnh Bình Phước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về địa chí tỉnh Bình Phước

Chương I trình bày quá trình kiến tạo địa bàn hành chính Bình Phước qua các thời kỳ lịch sử, từ vùng đất thuộc dinh Trấn Biên (1698), phủ Gia Định, trấn Biên Hòa thời Nguyễn, qua các phân định tiểu khu/tỉnh thời Pháp thuộc (Biên Hòa, Thủ Dầu Một), thời kỳ 1956–1975 (Bình Long, Phước Long), tỉnh Sông Bé (1976) đến khi tái lập tỉnh Bình Phước vào ngày 01/01/1997. Về điều kiện tự nhiên, Bình Phước có diện tích đất đỏ bazan đồi lượn sóng màu mỡ, khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo (nhiệt độ trung bình 26–27°C, lượng mưa 2.277–2.611 mm/năm), mạng lưới sông suối (sông Sài Gòn, sông Bé, sông Đồng Nai) và thảm thực vật rừng phong phú.

Về phân bố dân cư, theo số liệu Tổng điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số tỉnh Bình Phước là 874.961 người với hơn 40 dân tộc:

Dân tộc Số lượng (người) Tỷ lệ / Vị trí
Dân tộc Kinh 717.512 Đông nhất tỉnh
Dân tộc Stiêng 70.812 8,09% (Dân tộc thiểu số bản địa đông nhất)
Dân tộc Nùng 25.221 Dân tộc di cư
Dân tộc Tày 20.341 Dân tộc di cư
Dân tộc Khơme 12.416 Cư dân bản địa / lâu đời
Dân tộc Mạ và Mnông 10.113 Cư dân bản địa Tây Nguyên
Dân tộc Hoa 8.126 Cư dân đô thị / thương mại

Về đặc điểm nhân chủng và ngôn ngữ, người Stiêng thuộc nhóm nhân chủng Nam Á (loại hình Indonésia), chiều cao trung bình nam 1,65m, nữ 1,60m, da nâu đậm, tóc quăn nhẹ, mắt hai mí. Tiếng Stiêng thuộc ngữ hệ Môn – Khơme, chia thành hai phương ngữ chính là Bù Lơ và Bù Đek với độ dị biệt từ vựng khoảng 10%, cấu trúc câu theo trật tự Chủ ngữ – Vị ngữ – Bổ ngữ. Về nguồn gốc, sự hiện diện của 18 di tích đất đắp hình tròn thời tiền sử tại Bình Long (9 di tích), Lộc Ninh (5 di tích), Phước Long (4 di tích) có niên đại khoảng 3.000 năm trước phản ánh lớp cư dân tổ tiên bản địa của vùng đất.

Chương II: Những đặc trưng văn hóa của người Stiêng ở Bình Phước

Chương II đi sâu phân tích toàn diện các phương diện văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và tổ chức xã hội của người Stiêng, làm rõ sự phân hóa giữa hai nhóm địa phương chính là Bù Lơ (vùng cao) và Bù Đek (vùng thấp):

Tiêu chí đặc trưng Nhóm Stiêng Bù Lơ Nhóm Stiêng Bù Đek
Hình thức canh tác chính Làm nương rẫy luân khoảnh (Miir), đốt chọc tỉa hạt. Canh tác lúa nước, dùng sức kéo trâu bò để cày bừa.
Công cụ sản xuất Xà gạc (Wia), rìu (Sung), gậy chọc lỗ (Rmul), cuốc (Kao, Kor). Lưỡi liềm, bồ đập lúa, cuốc, cày, bừa, xe trâu.
Mô hình nhà ở truyền thống Nhà dài nền đất, mái tranh phủ sát đất, góc nhà hình tròn, dài khoảng 20m. Nhà sàn bằng gỗ lợp cỏ tranh, mặt sàn cách đất 1,5–2m, vách hơi nghiêng.
Phương thức nấu nướng Nấu cơm, canh trong ống tre, nứa, lồ ô; dùng muối tro từ gốc lồ ô. Nấu bằng nồi đất, nồi kim loại, chế biến gần với người Khơme và người Việt.

Bên cạnh nông nghiệp, các nghề thủ công truyền thống gồm nghề rèn (rèn nông cụ, vũ khí sắc bén từ lò đất có ống thụt bằng lồ ô), nghề dệt thổ cẩm (sử dụng khung dệt cố định vào lưng hoặc cột nhà, dệt các họa tiết đỏ, xanh, vàng trên nền vải đen), và nghề đan lát mây tre (đan gùi, giỏ bằng dao peh).

Về tổ chức làng bản và xã hội: Đơn vị cư trú cơ sở là Pol (hoặc Bon, Sóc, Wang). Đứng đầu quản lý làng là Tom pol (chủ làng) – người đàn ông cao tuổi, am hiểu phong tục, giàu có về trâu bò, cồng chiêng, được cộng đồng kính nể, bên cạnh hội đồng những người già uy tín (Bu kuông). Quan hệ xã hội dựa trên nguyên tắc dòng họ, gia đình mở rộng và sự gắn kết cộng đồng qua hình thức đổi công (Raipoul, malti).

Về phong tục, y phục và tín ngưỡng: Người Stiêng xưa có tục cà răng (đánh dấu tuổi trưởng thành ở nam giới) và căng tai (chuẩn mực cái đẹp và sự nhẫn nại của nữ giới). Đời sống tâm linh mang tính chất vạn vật hữu linh (Yang/Prak), tôn kính thần mặt trời, thần mặt trăng, thần đất (Yang ter), thần rừng (Yang pri), và thần lúa (Bra va/Wang ba). Các lễ hội lớn theo chu kỳ nông nghiệp gồm lễ chuẩn bị chọn rẫy (Pél-nong) vào tháng Giêng và lễ hội cầu mưa (Broh ba) gắn với huyền thoại nhân vật Jiêng lên trời xin vua trời Bra Ân làm mưa cứu dân làng.

Chương III: Quá trình phát triển văn hóa – xã hội và giao lưu văn hóa của người Stiêng ở Bình Phước

Chương III phân tích các giai đoạn chuyển biến lịch sử và tiếp biến văn hóa:

  • Thời kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược: Quá trình định hình địa bàn cư trú cổ truyền và mối quan hệ láng giềng hòa hiếu với người Mạ, Mnông, người Khơme (lập làng ở Nha Bích) và các đợt di dân của người Việt từ thế kỷ XVII–XVIII.
  • Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ: Thực dân Pháp lập các đồn điền cao su, cướp đoạt đất rừng, áp đặt thuế khóa khiến người Stiêng nổi dậy hưởng ứng nghĩa quân Trương Định, Trương Quyền, N’Trang Lơng. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đế quốc Mỹ dồn dân vào ấp chiến lược, khu dinh điền và rải chất độc hóa học đioxin; đồng bào Stiêng kiên quyết bám trụ, xây dựng căn cứ kháng chiến (tiêu biểu như sóc Bom Bo), che chở cán bộ cách mạng.
  • Giao lưu văn hóa và phát triển từ sau năm 1975 đến năm 2010: Người Stiêng hoàn thành quá trình định canh định cư, chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang cây công nghiệp (cao su, điều, cà phê, tiêu), sử dụng song ngữ Việt – Stiêng. Các hình thức nhà ở truyền thống dần thay thế bằng nhà xây kiên cố; tín ngưỡng bản địa đan xen với sự phát triển của đạo Tin Lành và Công giáo. Khóa luận cũng tổng kết các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và bảo tồn bản sắc văn hóa của tỉnh Bình Phước.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện tư liệu lịch sử – địa chí: Khóa luận là công trình nghiên cứu lịch sử đầu tiên tại địa phương khảo cứu tộc người Stiêng một cách độc lập và có hệ thống trên không gian hành chính tỉnh Bình Phước sau khi tái lập tỉnh (1997), khắc phục tính dàn trải của các tư liệu cũ gắn với tỉnh Sông Bé.
  • Cung cấp bức tranh phân loại tộc người chi tiết: Làm rõ sự phân hóa về văn hóa vật chất, nhà ở, phương thức canh tác và phương ngữ giữa hai phân nhóm Bù Lơ và Bù Đek bằng tư liệu điền dã kết hợp với các văn bản khảo cứu của học giả Pháp, Mỹ và Việt Nam.
  • Đề xuất giải pháp và kiến nghị thực tiễn: Tác giả đề xuất với chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý văn hóa các giải pháp bảo tồn nghề truyền thống (dệt thổ cẩm, đan lát), phục dựng lễ hội cầu mưa, bảo tồn nghệ thuật cồng chiêng, và nghiên cứu ứng dụng phương án chữ viết La-tinh hóa tiếng Stiêng.
  • Đóng góp cho công tác đào tạo: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp phục vụ biên soạn nội dung và giảng dạy phần Lịch sử địa phương tỉnh Bình Phước trong chương trình giáo dục phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn tư liệu thành văn cổ của chính người Stiêng không có do tộc người chưa có chữ viết truyền thống; các số liệu khảo sát thực địa còn giới hạn tại một số sóc tiêu biểu ở huyện Hớn Quản/Bình Long (sóc Lô Ô, sóc Phim Lu, sóc Xa Cô, sóc Bù Dinh, sóc Đam); một số tư liệu lịch sử thời kỳ cổ trung đại chủ yếu dựa trên suy đoán qua ghi chép gián tiếp của thư tịch triều Nguyễn và truyền thuyết dân gian.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu điền dã so sánh văn hóa người Stiêng ở Bình Phước với cộng đồng Stiêng tại Đồng Nai, Tây Ninh, Lâm Đồng và Campuchia; đi sâu đánh giá tác động của việc cải đạo sang Tin Lành đối với cấu trúc luật tục và gia đình truyền thống Stiêng hiện nay.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên và giảng viên ngành Lịch sử, Sư phạm Lịch sử, Dân tộc học: Tài liệu cung cấp khung kiến thức chi tiết, số liệu lịch sử và dân tộc học phục vụ học tập, nghiên cứu và xây dựng giáo án lịch sử địa phương vùng Đông Nam Bộ.
  • Đối với cán bộ quản lý văn hóa, Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước: Cung cấp cơ sở thực tiễn để hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, cồng chiêng, luật tục) và các chương trình an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo số liệu trong khóa luận, dân số người Stiêng tại tỉnh Bình Phước là bao nhiêu và chiếm tỷ lệ như thế nào?
Theo số liệu Tổng điều tra dân số ngày 01/04/2009 của Chi cục Thống kê tỉnh Bình Phước được trích dẫn trong khóa luận, toàn tỉnh có 70.812 người Stiêng, chiếm 8,09% dân số toàn tỉnh, là dân tộc thiểu số bản địa có quy mô dân số lớn nhất Bình Phước.

2. Sự khác biệt căn bản trong phương thức canh tác nông nghiệp giữa hai nhóm Stiêng Bù Lơ và Bù Đek là gì?
Nhóm Stiêng Bù Lơ chủ yếu làm nương rẫy (Miir) theo chu kỳ luân khoảnh (canh tác 2–3 năm, bỏ hóa 3–4 năm hoặc 8–10 năm) bằng kỹ thuật chặt đốt, chọc lỗ tỉa hạt thô sơ; trong khi nhóm Stiêng Bù Đek đã sớm tiếp thu kỹ thuật làm ruộng nước từ người Khơme và người Việt, biết dùng trâu bò để cày bừa và đắp bờ giữ nước.

3. Tục "căng tai" của phụ nữ Stiêng mang ý nghĩa văn hóa gì theo tài liệu của tác giả?
Tục căng tai ở phụ nữ Stiêng được thực hiện bằng cách dùng vật căng để nới rộng vành tai theo từng năm, đến khi vành tai đứt ra sẽ mổ trâu ăn mừng (lễ rách tai). Vành tai càng dài và rộng được quan niệm là biểu hiện của người phụ nữ đẹp, có đức tính kiên trì, chịu thương chịu khó và nhẫn nại.

4. Nguồn gốc của Lễ hội cầu mưa (Broh ba) bắt nguồn từ truyền thuyết nào trong văn bản?
Theo truyền thuyết được ghi nhận tại Bảo tàng tỉnh Bình Phước dẫn trong khóa luận, lễ hội bắt nguồn từ tích nhân vật Jiêng lên trời gặp vua cha Bra Ân để hỏi lý do hạn hán ở xứ mình. Sau khi làm theo lời cha dạy – chuẩn bị lễ vật gồm heo, gà, rượu cần, cơm lam, cồng chiêng và dựng cây nêu làm lễ tạ ơn các thần linh (thần trời, thần đất, thần lúa), trời đã đổ mưa như trút; từ đó lễ hội được tổ chức hàng năm vào cuối mùa nắng.

5. Cấu trúc nhà ở truyền thống của người Stiêng Bù Lơ có đặc điểm gì nổi bật?
Nhà ở truyền thống của người Stiêng Bù Lơ là mô hình nhà dài nền đất, dựng bằng gỗ tranh tre nứa lá, chiều dài khoảng 20m, cao 3–4m, mái lợp cỏ tranh phủ trùm sát vách đất cách mặt đất khoảng một mét. Bên trong chia thành nhiều ngăn và bố trí nhiều bếp lửa cho từng gia đình hạt nhân cùng chung sống dưới sự điều hành của chủ nhà.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Tuyết là công trình chuyên khảo công phu về lịch sử hình thành, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và tổ chức xã hội của cộng đồng người Stiêng trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Tác phẩm đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp nghiên cứu lịch sử, khai thác thư tịch cổ với phương pháp điền dã dân tộc học thực tế tại địa phương. Đây là nguồn tài liệu khoa học có giá trị phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương và hoạch định chính sách phát triển dân tộc tại vùng Đông Nam Bộ.