chương 1 đã xây dựng khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn. Đồng thời đã khái lược quy định pháp luật về vẫn đề cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn. Việc làm rõ cơ sở lý luận của van đề cấp đưỡng cho con sau khi cha mẹ ly hôn, cũng như nêu rõ những kỹ năng chung về tư vấn pháp luật.sẽ là cơ sở quan trọng giúp cho người tư vấn xây dựng kỹ năng trong quá trình cung cấp dich vụ tư van pháp luật về nghĩa vụ cấp đưỡng cho con sau khi cha mẹ ly hôn tại chương 2 một cách đầy đủ, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, đồng bộ với các quy định pháp luật khác có liên quan. 11 CHƯƠNG 2 KY NĂNG CUA NGƯỜI TƯ VAN PHÁP LUẬT VE NGHĨA VỤ CAP DUONG CHO CON KHI CHA ME LY HON 2.
Kỹ năng xác định các van đề chuyên môn khi tư vấn về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn Để có thể tư vấn giúp bảo vệ quyền lợi cho khách hang, trước tiên người tư vấn cần có kiến thức pháp luật chắc chắn, hiểu thấu đáo các nội dung pháp luật có liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn, đồng thời phải tìm ra những quy định chưa rõ để có cách áp dụng pháp luật vào giải quyết các vụ việc thực tiễn một cách khéo léo, hiệu quả nhất. Điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dudng cho con khi cha mẹ ly hôn - Giữa cha mẹ và con có quan hệ huyết thông trực hệ hoặc nuôi dưỡng. Quan hệ huyết thống trực hệ là quan hệ dựa trên sự kiện sinh đẻ của người phụ nữ và từ sự kiện đó phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con, đo vậy cha mẹ phải có nghĩa vụ nuôi đưỡng, chăm sóc các con trở thành công đân tốt, và những người con cũng có nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ, đặc biệt là khi cha me 6m đau bệnh tật. Điều đó bắt nguồn từ mối quan hệ tinh cảm tổn tại lâu bền giữa họ.
Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ do sự kiện nuôi con nuôi và quan hệ hôn nhân đem lại, được thể hiện qua Quyết định công nhận cha, mẹ, con của cơ quan Nhà nước có thâm quyền. Nuôi con nuôi là việc một người nhận nuôi một đứa trẻ (trừ trường hợp đặc biệt có thể người được nhận làm con nuôi là người đã thành niên) không đo họ sinh ra nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và các con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi, dam bảo cho người được nhận nuôi được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp với đạo đức xã hội. - Cha mẹ và con không sống chung với nhau, trừ trường hợp đặc biệt khác. Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh khi người có nghĩa vụ nuôi dưỡng 12 vì hoàn cảnh không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi đưỡng người kia đặc biệt trong trường hợp cha mẹ ly hôn, vì thế họ phải chu cấp một khoản tiền hoặc tài sản nhất định (như lương thực, thực phẩm, quần áo, thuốc men,.) dé dap ứng nhu cầu thiết yếu của người cần được cấp đưỡng, dam bảo sự sống còn của họ.
Ví dụ: Trước khi ly hôn cả vợ và chồng đều có thể hằng ngày chăm sóc con của mình, nhưng khi họ ly hôn người con khi đó chỉ có thê ở với cha hoặc mẹ và như vậy người còn lại không thể trực tiếp quan tâm, chăm sóc con như trước, nhưng họ có thể thể hiện sự quan tâm đó thông qua hình thức cấp dưỡng cho con. “Không sống chung” trong quan hệ cấp đưỡng là cha mẹ không có quỹ tiêu dùng chung, vi vậy mà họ không thé trực tiếp chăm sóc con, nên van đề cấp dudng được đặt ra nhằm dam bảo nhu cầu sống tối thiểu cho con. Nhưng trong trường hợp tuy có quỹ tiêu đùng chung nhưng nghĩa vụ cấp đưỡng vẫn được đặt ra, đó là khi người cha hoặc người mẹ trén tránh trách nhiệm nuôi dưỡng đối với người con. Qua đó ta thay quan hệ nuôi dưỡng và cấp đưỡng có mối quan hệ với nhau.
Nuôi đưỡng bao hàm không chỉ việc chi phí tiền bạc, tài sản mà còn chứa đựng cả hành vi chăm sóc, nuôi nắng trực tiếp. Nuôi đưỡng là cơ sở của việc cấp đưỡng. Nuôi đưỡng có thê được thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua việc cấp dưỡng. Theo Luật HN&GĐ năm 2014 về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn thì điều kiện chung để phát sinh quan hệ cấp dưỡng đó chủ yếu vẫn dựa trên quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng, nhưng không phải chỉ trong trường hợp không sống chung với con.
Ngoài ra, Luật HN&GĐ năm 2014 ghi nhận thêm trường hợp cha hoặc mẹ sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi đưỡng thì thực hiện nghĩa vụ cấp đưỡng (Điều 110). Theo Điều 110 thì Luật không quy định cụ thể cha mẹ sau khi ly hôn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mà điều luật chỉ quy định cha mẹ có nghĩa vụ cấp đưỡng cho con trong trường hợp không sống chung hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con. 13 - Trong quan hệ cấp dưỡng sau ly hôn giữa cha mẹ với con thì con được cấp dưỡng là chưa thành niên hoặc người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản dé tự nuôi mình. Con chưa thành niên luôn là đối tượng được cấp dưỡng nhưng đối với con đã thành niên thì phải có điều kiện nhất định mới được cấp đưỡng.
Con chưa thành niên là con chưa có đủ điều kiện cũng như quyền lợi về mặt pháp luật để có thể tự nuôi sống bản thân. Con đã thành niên phải có điều kiện thì mới được cấp dưỡng, đó là phải không có khả năng lao động và đi kèm là không có tài sản để tự nuôi mình. Không có khả năng lao động có thé là đo già yếu, mat sức lao động, bị tàn tật, mat năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên không có khả năng lao động phải đi kèm với điều kiện không có tài sản đề tự nuôi mình, quy định như vậy bởi trên thực tế có rất nhiều trường hợp không có khả năng lao động nhưng họ vẫn có tài sản để tự nuôi mình.
Tuy nhiên vẫn đề khi nào một người được coi là “không có tài sản để tự nuôi mình” là vấn đề cần được pháp luật quy định cụ thé dé làm một trong những căn cứ xác định việc thực hiện nghĩa vụ cấp đưỡng. Van đề này Luật HN&GD năm 2000 không quy định rõ ràng, đến Luật HN&GD năm 2014 cũng chưa quy định cụ thê, vì vậy pháp luật cần phải quy định cụ thể vấn đề này để đảm bảo tính thống nhất trong thực tiễn xét xử. - Cha mẹ phải có khả năng cấp dưỡng. Khoản 1 điều 116 Luật HN&GD năm 2014 quy định: “Mức cấp dưỡng đo người có nghĩa vụ cấp đưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Từ đó có thể suy ra rằng điều kiện để xác định khả năng cấp dưỡng của cha mẹ phụ thuộc vào việc cha mẹ có khả năng thực tế để cấp dưỡng cho con hay không. Khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng dựa vào hai yếu tố: thu nhập thường xuyên và tài sản hiện có, hoặc một người tuy không có thu nhập thường xuyên nhưng lại còn tài sản sau 14 khi đã trừ đi chỉ phí cần thiết cho bản thân thì cũng được coi là có khả năng để thực hiện nghĩa vụ cấp đưỡng. Trong trường hợp con có quyền được cha mẹ cấp dưỡng nhưng cha mẹ lại không có khả năng thực hiện nghĩa vụ đó thì cha mẹ cũng không phải thực hiện nghĩa vụ (như cha mẹ bị tàn tật, mất năng lực hành vi dan sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình). Trong trường hợp này, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng cho đến khi họ có khả năng cấp dưỡng (Điều 117 Luật HN&GD năm 2014).
Do đó, việc cấp đưỡng trên phải căn cứ vào khả năng, thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ cấp đưỡng. Mức cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn Mức cấp đưỡng được hiểu là một khoản tiền hay hiện vật khác mà người được cấp đưỡng nhận từ người có nghĩa vụ cấp dưỡng để phục vụ cho sinh hoạt của mình. Đối với những đứa trẻ có cha mẹ ly hôn thì mức cấp dưỡng phù hợp sẽ giúp bù đắp phan nào những ton thất về vật chất mà đáng lẽ ra chúng sẽ được nhận nhiều hơn khi được sống chung với cả cha và mẹ. Mức cấp dưỡng được quy định tại Điều 116 Luật HN&GP năm 2014 như sau: “1.
Mức cấp đưỡng do người có nghĩa vụ cấp đưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp đưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.” Thứ nhất, vê căn cứ xác định mức cap dưỡng. 15 Theo quy định tại Khoản 1 Điều 116 Luật HN&GĐÐ năm 2014 mức cấp dưỡng được xác định dựa trên hai căn cứ đó là: thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp đưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.
- Xét căn cứ thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng: Khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp đưỡng dựa trên hai yếu tố là thu nhập và tài sản hiện có. Một người có thu nhập thường xuyên 6n định có thé đáp ứng những nhu cầu hợp lý của bản thân và còn dư thì được coi là có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Hoặc một người tuy không có thu nhập thường xuyên nhưng lại còn tài sản sau khi đã trừ đi chỉ phi cần thiết cho bản thân thì cũng được coi là có kha năng để thực hiện nghĩa vụ cấp đưỡng.