CHƯƠNG 1: KHÁI QUAT VE CON DUONG PHẬT GIAO VÀO VIỆT NAM VÀ SỰ HÌNH THÀNH THIÊN PHÁI TRÚC LAM 1. Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam và sự hình thành các dòng thiền Phật giáo là một trào lưu triết học - tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 trước công nguyên ở bắc An Độ. Người sáng lập ra hệ thống triết học - tôn giáo này là Tất Đạt Đa (Siddhatha), thái tử của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) thuộc bộ tộc Sakiya. Vi thái tử này (khoảng 563-483 TCN) đã từng theo học các tu sĩ Bà La Môn từ năm lên bảy, kết hôn năm 16 tuổi, mười ba năm sau đó sống trong cuộc đời vương giả, - nhưng trong một đêm tháng Hai năm vừa tròn 29 tuổi, đã lặng lẽ rời hoàng cung đi tìm chân lý.
Trải qua sáu năm với những phương pháp tu luyện ép xác nhưng không đạt được chính đạo, nhưng chỉ sau 48 ngày nhập định, Tat Dat Da đã ngộ rõ căn nguyên sinh thành, biến hóa của vũ trụ, căn nguyên của những khổ đau, và đề ra phương pháp diệt trừ nỗi khổ đó cho chúng sinh, bằng học thuyết “Nhân duyên sinh” và triết lý “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên”, “Bát chánh đạo”. Con người này đã đưa ông trở thành đức Phật Thích Ca đầy uy nghiêm trong đời sống tỉnh thần của người phương Đông hết thế hệ này đến thế hệ khác. Những giáo lý mang nặng tính triết lý, đạo đức của đạo Phật đã có một ảnh hưởng sâu rộng đến phong tục, tập quán, văn hóa, văn minh của nhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam. Dựa trên những chứng liệu lịch sử đáng tin cậy, một số nhà nghiên cứu chuyên: sâu, có uy tín về Phật giáo đã khẳng định, sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiên thật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là được truyền sang trực tiếp từ Án Độ.
Quốc gia Âu Lạc đã bị Nam Việt của Triệu Đà thôn tính vào năm 179 trước công nguyên, và lập thành quận Giao Chỉ. Năm 110 trước công nguyên, Nam Việt trở thành nội thuộc của nhà Hán, Giao Châu theo đó mà cũng quy về, và được chia thành Trên lãnh thổ của nhà Hậu Hán, sau đó đã tồn tại ba trung tâm Phật giáo là Luy Lâu, Lạc Dương và Banh Thành. Sử liệu cỗ của Trung Hoa cũng không ghi nhận được rõ ràng sự hình thành của hai trung tâm Lạc Dương và Bành Thành, chỉ có Luy Lâu thuộc Giao Chỉ là được xác định rõ ràng và sớm nhất, và còn là bàn đạp cho việc hình thành hai trung tâm kia. Từ nửa sau thế kỷ thứ hai, Luy Lâu đã tồn tại như một trung tâm Phật giáo quan trọng và phổn thịnh.
Điều này cho thấy việc du nhập Phật giáo vào Giao Châu là rất sớm, có lẽ từ đầu công nguyên. Một số chứng liệu, lập luận đáng chú ý khác cũng củng cố nguồn gốc khởi thủy sớm sủa từ Ấn Độ của Phật giáo Việt Nam so với Phật giáo Trung Hoa. Theo đó thì vào thời kỳ nhà Hán, Không giáo và Lão giáo, đặt biệt là Khổng giáo, đã rất mạnh, giới trí thức Không, Lão đã chống lại Phật giáo, một luận thuyết tỏ ra khá xa lạ với những chuẩn mực đạo đức, xã hội của Không, Lão. Do đó, Phật giáo rất khó dé có thé thâm nhập.
Trong khi đó, ở Giao Châu, Phật giáo xem ra rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian, nên việc thâm nhập không gặp trở ngại, mà lại còn đễ dàng và nhanh chóng. Vào thời đó, dù từ Trung Hoa đã có con đường bộ đi đến An Độ gần hơn đường biển, nhưng con đường xuyên qua Trung Á lại chứa đựng nhiều hiểm nguy, và đường biển lại là con đường an toàn hơn, không có núi non, sa mạc, hay cướp bóc, giết chóc. Bằng chứng là vào đầu thế kỷ thứ tư, con đường bộ đã dễ đi hơn, nhưng đến cuối thế ky này, Pháp Hiển mới từ Trung Hoa sang Án, và đến tận thé kỷ thứ bảy, Huyền Trang đã phải trải qua không biết bao nhiêu gian nan mới đi trọn vẹn con đường. Ngoài ra còn có hai chứng liệu rất quan trọng cho nguồn gốc rất sớm của Phật giáo Việt Nam.
Thứ nhất, tập luận thuyết Phật giáo đầu tiên bằng Hán tự, Lý hoặc luận của Mau Tử (165? 170?) đã được viết ở Giao Chi, chứ không phải ở một nơi nào khác sâu trong nội địa Hán. Thứ hai, vào thế kỷ thứ hai, ở Giao Chỉ đã có một tăng đoàn đến 500 vị và khoảng 15 bộ kinh, trong khi đến thế kỷ thứ ba ở Hán mới có tăng đoàn. Sự hình thành của thiền phái Trúc Lâm. Theo dòng lịch sử, chúng ta nhìn lại Phật giáo Việt Nam han thấy nỗi bật một nét đột phá vô cùng thú vị - một Thiền phái mang tên Việt Nam, với ông Tô là người Việt Nam va là một vi vua anh hùng của dân tộc.
Đây là một chấm son trong lịch sử dân tộc nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng. Phật giáo là giáo lý giác ngộ chân thật, đó là một lẽ thật bình đẳng không phân chia ranh giới vì "Tất cả chúng sinh đều có Phật tính". Tuy nhiên Phật giáo truyền vào mỗi nước, thì mỗi nước có tính dân tộc riêng, có ngôn ngữ, có nếp sinh hoạt, nếp suy nghĩ theo cá tính dân tộc, do đó Phật giáo cũng phải hoà nhập vào mỗi dân tộc để có được sự tiếp thu đễ dàng thích ứng. Điều này, điểm qua lịch sử, chúng ta thấy Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử qua thực đã làm nỗi bật lên những nét chấm phá của Phật giáo Việt Nam, nếu khai thác đúng mức, chắc rằng nó sẽ đóng góp lớn trên đường phát triển của dân tộc.
Nguyễn Lang, trong Việt Nam Phật giáo Sử luận đã viết: "Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Dai Việt. Nó là xương sống của một nền văn hoá Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình”. Phải nói rằng sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm là niềm tự hào lớn của dân tộc.
Nó thể hiện bản sắc, cũng như tín tự chủ, tỉnh thần không chịu lệ thuộc ngoại lai. MY Nguyễn Tài Thư trong Lich Sử Phật Giáo Việt Nam cũng đã khẳng định: “Nếu như nhập thế là một khuynh hướng tư tưởng của một học thuyết, một tôn giáo chủ trương tham gia các hoạt động chính trị và giải quyết các vấn đề chính trị xã hội thì Phật giáo không phải là một Tôn giáo nhập thế - trái lại nó là tôn giáo xuất thế”. Khác với các Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Đại Việt mang đậm tinh thần nhập thế. Điều đó cho thấy đạo Phật Việt Nam không phải là đạo yếm thế, mà muốn tìm con đường giác ngộ không thé từ bỏ thế gian nay mà giác ngộ được.
Với tinh thần Bồ tát đạo thì người con Phật càng phải dẫn thân vào cuộc sống, đồng sự với chúng sinh, vui với niềm vui của đất nước, đau với nỗi đau của dân tộc, nhưng khi thanh bình thì vẫn trở về Với cuộc sống tu hành thoát tục. Chính Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một thiền 1. Bối cảnh lịch sử cuối nha Ly, đầu nhà Tran. Đầu thé kỷ XIII, triều đình nhà Ly bắt đầu suy yếu.
Các nhà vua khi lên ngôi còn quá non trẻ, lớn lên ham chơi, bỏ bê việc triều chính. Vua Cao Tông mai mê xây cung điện, nghe đàn hát. Vua Duệ Tông thì nhu nhược, lại mắt bệnh cuồng. Trong triều các gian than, ninh thần lộng hành nhiễu loạn.
Ngoài xã hội, nhiều năm mat mùa, đói kém triỀn miên. Nạn hỗn chiến giữa các phe phái phong kiến càng trở nên sâu sắc. Trong triều đình bấy giờ, với cuộc hôn nhân của Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng họ Trần ngày càng chiếm ưu thế, anh em con cháu họ Trần lần lượt nắm giữ các chức vụ quan trọng trong triều. Tổ tiên của dòng đối nhà Trần có nguồn gốc dân tộc Mân ở quận Tần Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa.
Trần Quốc Kinh từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110, thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127), lúc đầu cư trú tại xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay; sống bằng nghề chài lưới trên sông nước, trên đường làm ăn chuyển dan vào hương Tức Mac, huyện Thiên Trường (Nam Định), Đến đời Trần Hấp dời mộ tô sang và sinh sống tại Tam Đường, phủ Long Hưng, nay là vùng đất thuộc Đông Hưng, Thái Bình. Trần Quốc Kinh khi dời từ An Sinh (Quảng Ninh) về Tức Mạc (Nam Định) lấy vợ sinh ra Trần Hấp. Trần Hấp dời mộ cha sang sinh sống tại Long Hưng (Thái Bình) sinh ra Trần Lý và Trần Hoằng Nghỉ. Trần Lý sinh ra Trần Thừa Nt (sau được tôn là Trần Thái Tổ), Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung.
Trần Hoằng Nghỉ sinh được ba người con trai: Trần An Quốc, Trần An Bang và Trần Thủ Độ. Vốn sống bằng nghề đánh cá, họ Trần thường sinh sống làm ăn ở những vùng cửa sông ven biển, đến đời Trần Lý (ông nội của vua Trần Thái Tông) đã trở thành một cự tộc có thế lực vùng Hải Ấp (nay là xã Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Năm 1209, khi trong triều có biến loạn, vua Lý Cao Tông phải chạy lên Quy Hoá, Thái tử Sảm chạy về Hải Ấp đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ. Hoàng tử Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứ hai của Trần Lý.
Họ Trần đã tập hợp hương binh giúp nhà Ly dep loạn, diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng của Pham Binh Di), đưa vua Ly Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi hoàng tử Sảm lên ngôi vào năm 1211, tức là vua Lý Huệ Tông. Ông cho đón vợ là Trần Thị Dung về cung lập làm nguyên phi. Lúc này, Tô Trung Từ được phong Thái uý phụ chính. Huệ Tông là người yếu đuối, lại bị Thái hậu họ Đàm khống chế, nên mọi việc đều phó thác cho Đàm Dĩ Mông, người chức cao, quyền lớn nhưng "không có học thức, không có mưu thuật, lại nhu nhược không quyết đoán, chính sự ngày một đô nát".
Lợi dụng tình hình đó, Đoàn Thượng làm phản, tụ tập bè đảng ở Hồng Châu thả sức cướp bóc, khiến triều đình không chế ngự nỗi. Năm 1216, trước tình thế bức bách của Đàm thái hậu, Ly Huệ Tông đã bi mật rời bỏ hoàng cung, cùng với Trần thị Dung trốn đến nơi đóng quân của Trần Tự Khanh.