CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN TRỢ GIÚP TRẺ KHUYẾT TẬT 1. Cơ sở lý luận về trẻ em khuyết tật 1. Khái niệm trẻ khuyết tật 1. Trẻ em Trong Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989, văn kiện quốc tế cơ bản, toàn diện nhất về trẻ em tính đến thời điểm hiện tại đã định nghĩa rằng: “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Và để làm rõ khái niệm trẻ em, ngay trong lời nói đầu của Công uớc đã nêu rõ: “trẻ em, do còn non nót về thể chất và trí tuệ, cần phải được bảo vệ và chăm sóc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời". Theo đó, trẻ em là những người đàm bảo đầy đủ các điều kiện sau: Một là, phải là người còn non nớt về thể chất và trí tuệ; Hai là, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt; Ba là, người từ 0 đến dưới 18 tuổi. Theo quy tắc Bắc Kinh (Những quy tắc tối thiểu, phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên ngày 20/11/1985) nêu rõ: “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi". Họ là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ bị hạn chế, thiếu những điều kiện và khả năng tự lập, khả năng kiềm chế kém, dễ bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động có tính phiêu lưu mạo hiểm.
Như vậy, việc sử dụng những khái niệm có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý, Liên hiệp quốc đặt các em trong đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia với mục đích bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên khi phạm pháp. Kêu gọi các nước thành viên tham gia Công ước Quốc tế về quyền trẻ em 8 phải quan tâm đầy đủ đến các biện pháp; tích cực, huy động các nguồn lực có thể để giúp đỡ trẻ em và người chưa thành niên nhằm giảm sự can thiệp của pháp luật và xử lý người chưa thành niên phạm pháp một cách công bằng, nhân đạo và hiệu quả. Ở Việt Nam, theo Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì trẻ em là “công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Như vậy, độ tuổi được coi là trẻ em trong pháp luật nước ta thấp hơn so với quy định trong Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
Tuy nhiên, đây không bị coi là trái với quy định chung của quốc tế bởi vì Điều 1 Công ước về quyền trẻ em cũng đồng thời cho phép các quốc gia thành viên quy định độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi. Trẻ khuyết tật Hiện nay chúng ta vẫn chưa có bất kỳ một văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về khái niệm Thế nào là trẻ khuyết tật? Mà hầu như mọi quốc gia đều gắn nó chung với khái niệm người khuyết tật. Công ước về quyền của người khuyết tật đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 03/2007. Đây là điều ước quốc tế đầu tiên về quyền con người của Liên hợp quốc trong thế kỷ XXI, đánh dấu một buớc ngoặt trong cuộc đấu tranh cho quyền của những người khuyết tật trên thế giới.
Theo đó, tại Điều 1 Công ước trên, người khuyết tật bao gồm “Những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác". Mặc dù vẫn còn những quan điểm khác nhau về những thuộc tính cấu thành khái niệm “người khuyết tật", tuy nhiên, đây là lần đầu tiên có một định nghĩa về “người khuyết tật" được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người, nó là cơ sở trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm đối tượng này. 9 Tại Trung Hoa, Điều 2 Luật của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người khuyết tật năm 1990 quy định: “Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường. Người khuyết tật là những người có thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần hoặc nhiều khuyết tật khác”.
Tại Ấn Độ, Luật người khuyết tật ban hành năm 1995 của Ấn Độ định nghĩa khuyết tật bao gồm những tình trạng bị mù, nghe kém, bệnh phong; thị lực kém; suy giảm khả năng vận động; chậm phát triển trí óc và mắc bệnh về tâm thần. Tại Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về người khuyết tật. Đại đa số đều dùng từ khuyết tật và tàn tật để chỉ cùng một khái niệm, và được dùng song song trên cả phương diện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy. Điều I Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 định nghĩa người tàn tật là: “Người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động khiến cho lao động, học tập gặp nhiều khó khăn”.
Ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật, có hiệu từ 01/01/2011 thay thế Pháp lệnh về người tàn tật 1998, chính thức sử dụng khái niệm “Người khuyết tật” thay cho khái niệm “Người tàn tật” hiện hành, phù hợp với khuynh hướng nhìn nhận chung của thế giới. Theo Quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật người khuyết tật năm 2010 thì người khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giàm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn". Khái niệm nảy được đưa ra dựa vào mô hình xã hội và về cơ 10 bản phù hợp với khái niệm người khuyết tật trong Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007. Như vậy, dựa trên định nghĩa về người khuyết tật và định nghĩa về trẻ em, cá nhân tôi trong bài khóa luận này sẽ định nghĩa như sau: Trẻ khuyết tật được hiểu là những người trong độ tuổi tử 0 đến 18 tuổi có khiếm khuyết về cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm các chức năng của cơ thể làm hạn chế khả năng hoạt động, gây khó khăn trong sinh hoạt, học tập, hòa nhập xã hội.
Việc đưa ra khái niệm chung, thống nhất về trẻ khuyết tật rất quan trọng nhưng không phải dễ dàng, bởi như đã nói ở trên, ngay trong hệ thống pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế cũng không có quy định cụ thể về trường hợp này, trong khi các tiêu chí xác định khuyết tật hay độ tuổi được coi là trẻ em vẫn chưa thực sự thống nhất. Vì vậy, cần phải có cái nhìn tổng thể về trẻ em và người khuyết tật để hình thành khái niệm hợp lý nhất về trẻ khuyết tật. Từ dó, là cơ sở để phân loại, nghiên cứu, chăm sóc và bảo vệ nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này. Phân loại khuyết tật: 1.
Theo dạng khuyết tật: Theo Luật người khuyết tật năm 2010 thì khuyết tật được chia làm các loại sau: - Khuyết tật vận động: Là dạng khuyết tật ảnh hưởng đến khả năng vận động, di chuyển như: Khó khăn trong việc ngồi, đi, đứng; Người bị yếu, liệt hoặc hạn chế vận động tay, chân, lưng, cổ; Người bị dị tật ,bị biến dạng ở đầu, cổ, lưng hoặc tay, chân. - Khuyết tật nghe, nói: Những người khuyết tật thuộc nhóm này là những người yếu kém khả năng nghe nên cần phải có những dụng cụ trợ thính để giúp họ nghe được 11 tiếng nói của người khác; vì không nghe được nên khả năng nói của họ cũng rất yếu kém. Các biểu hiện như sau: Khó khăn khi nói hoặc không nói được, khó khăn khi nghe hoặc không nghe được, bị biến dạng ở vùng tai, mũi và miệng. - Khuyết tật nhìn: Là những người rất yếu kém khả năng nhìn, dù đã đeo kính, khiến hạn chế hoạt động cần nhìn bằng mắt: khó khăn khi nhìn hoặc không nhìn thấy đồ vật trong nhà, khó khăn khi phân biệt màu sắc hoặc không phân biệt được các màu sắc, bị dị tật hoặc biến dạng ở vùng mắt.
- Khuyết tật thần kinh, tâm thần: Là người suy yếu về cảm xúc, suy nhược tinh thần hoặc mắc bệnh tâm lý khiến cho những nhu cầu của cá nhân và những nhu cầu mang tính xã hội của họ bị hạn chế. Những biểu hiện thể hiện khuyết tật này: Thưởng ngồi một mình, chơi một mình, không bao giờ nói chuyện hoặc quan tâm đến bất kỳ ai. Có những hành vi bất thường như kích động, cáu giận hoặc sợ hãi vô cớ hoặc có hành vi hủy hoại bản thân như đập đầu, cắn tay chân của chính mình, bất ngờ dừng mọi hoạt động, mở mắt trừng trừng không chớp, co giật tay, môi, mặt hoặc bất thình lình ngã xuống, co giật, sủi bọt mép, gọi hỏi không biết. - Khuyết tật trí tuệ : Những người khuyết tật dạng này có sự suy yếu hay chậm phát triển trí não như những người bại não, động kinh, tự kỷ, và những rối loạn tương tự khác.
Những người này thường khó khăn trong việc nhận biết người thân trong gia đình hoặc khó khăn trong giao tiếp với những người xung quanh so với người cùng tuổi. Chậm chạp, ngờ nghệch hoặc không thể làm được một việc đơn giản dù đã được hướng dẫn. Họ cũng khó khăn trong việc học tập (đọc, viết và làm toán) so với người cùng tuổi do chậm phát triển trí tuệ. - Khuyết tật khác: 12 Là những người bị giảm khả năng thực hiện các hoạt động trong học tập và lao động do tê liệt, mất cảm giác ở tay chân, mặc dù đã được điều trị liên tục 3 tháng; giảm khả năng thực hiện các hoạt động trong học tập và lao động do các nguyên nhân hô hấp hoặc do tim mạch hoặc do rối loạn đại, tiểu tiện dù đã liên tục điều trị 3 tháng, giảm khả năng thực hiện các hoạt động trong học tập và lao động do các nguyên nhân khác.